0913 840 746
Chủ nhật, ngày 25 tháng 02 năm 2018
TÌM KIẾM
TIN MỚI Y HỌC
80% BỆNH NHÂN UNG THƯ VN ĐẾN BỆNH VIỆN Ở GIAI ĐOẠN CUỐI
Mỗi năm VN có 200 ngàn bệnh nhân ung thư mới, 70 ngàn người bệnh ung thư tử vong. Trong đó, đến 80% bệnh nhân ung thư ở VN đến bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Việt Nam có 160.000 ca ung thư/năm: Vì sao ăn bẩn, độc
Mỗi năm Việt Nam có từ 130 nghìn đến 160 nghìn trường hợp mắc mới, trong đó có khoảng 85 nghìn đến 115 nghìn người tử vong do căn bệnh này.
Công bố danh sách “làng ung thư”
Theo dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số làng ung thư của VN, các nguồn nước ăn uống, sinh hoạt tại 37 làng ung thư đều ô nhiễm nặng.
Triclosan trong kem đánh răng Colgate: vạch trần hàm lượng nguy hiểm sức khỏe
Từ sau khi Triclosan được nhiều nghiên cứu khoa học công bố là làm tăng nguy cơ ung thư, nhiều hãng sản xuất hóa mỹ phẩm đã loại bỏ nó trong thành phần sản phẩm. Chất này bị cấm ở nhiều nước Âu Mỹ. Tại Việt Nam, Triclosan cũng không còn được sử dụng trong các sản phẩm kem đánh răng, trừ Colgate. Đáp lại mối lo ngại của người tiêu dùng, Bộ Y tế cho biết Triclosan được phép sử dụng nếu hàm lượng không vượt ngưỡng 0,3%.
Cung cấp thuốc kém chất lượng, công ty dược của Mỹ bị rút giấy phép
Ngoài việc bị rút giấy phép hoạt động, Công ty Ronbinson Pharma, Inc (Mỹ) phải nộp phạt 80 triệu đồng vì sản xuất thuốc kém chất lượng, trong đó có nhiều lô glucosamine
HOANG MANG VỚI VỎ THUỐC-GELATINE
Gelatin có trong mô liên kết, xương, da của động vật và là sản phẩm được sản xuất từ da heo, da bò. Từ da heo, bò, collagen được thủy phân hóa một phần để biến thành gelatin. Như vậy để bào chế thuốc là viên nang phải có vỏ nang được chế tạo từ nguyên liệu là gelatin. Và gelatin dùng trong ngành dược sản xuất thuốc phải là gelatin dược dụng.
Kem đánh răng nào ở VN có chất gây ung thư triclosan?
Khảo sát của Kiến Thức về các sản phẩm kem đánh răng hiện nay: đều ghi rõ thành phần, không ghi hàm lượng. Câu hỏi đặt ra: chất triclosan gây ung thư chiếm tỉ lệ bao nhiêu?
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

0913 840 746

GĐ : NGUYỄN CÔNG KHUÔNG

[email protected]

TƯ VẤN TRAO ĐỔI

Phuongthaotdcom Nguyen Khuong

TƯ VẤN - HỖ TRỢ
THỐNG KÊ TRUY CẬP
11457
Đang online: 1
Truy cập hôm nay: 9
Truy cập hôm qua: 22
Truy cập trung bình: 15
Tổng số truy cập: 11457
Your IP : 54.160.153.233
Bệnh Họng, Phổi, Hô Hấp

BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP - KHÓ THỞ DƯỚI CÁI NHÌN CỦA BÁC SỸ MỸ

 BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP - KHÓ THỞ DƯỚI CÁI NHÌN CỦA BÁC SỸ MỸ

Phổi có nhiệm vụ quan trọng nhất là trao đổi không khí, Phổi có một số bệnh sau: Khó thở, phù phổi, ho và ho ra máu,lao,  viêm phổi ( nhiễm bụi, nhiễm khuẩn ). 

 A.  Tây y chữa bệnh phổi

I.   Khó thở.

1.  Định lượng khó thở. Các chuyên gia y khoa Mỹ cho rằng, khó thở là sự nhận biết thở khó chịu bất thường. Những cơn khó thở kịch phát về đêm nặng là đặt trưng của chứng suy tâm thất trái. Khó thở khi nằm ngửa được cho chủ yếu là suy tim sung huyết, cũng có thể xảy ra ở một số bệnh nhân hen và nghẽn đường thông khí mãn tính và là dấu hiệu thường thấy của bệnh hiếm gặp là liệt cơ hoành hai bên. Có trường hợp khó thở chỉ xảy ra ở tư thế nằm nghiêng, có trường hợp xảy ra ở tư thế đứng.

2.  Cơ chế khó thở. Khó thở xảy ra khi động tác thở tăng lên quá mức, động tác thở cũng tăng lên khi mức độ thông khí quá cao so với mức độ sinh hoạt. Trong tình huống hen thì cơ chế khó thở là tăng cảm giác gắng sức, kích thích thụ thể gây kích thích trong đường hô hấp. Trong tình huống bệnh thần kinh cơ thì cơ chế khó thở là tăng cảm giác gắng sức. trong tình huống phổi tắc nghẽn mãn tính thì cơ chế là tăng cảm giác gắng sức, giảm o xy không khí hít vào, tăng các bo nic huyết, chèn ép đường thông khí. Trong tình huống nghẽn mạch phổi thì cơ chế là kích thích các thụ thể áp suất trong hệ mạch phổi hoặc tâm nhĩ trái.

3.  Nghẽn đường thông khí dù mãn tính hay cấp tính thì triệu chứng chủ yếu vẫn là khó thở và các dấu hiệu đặc trưng là tiếng thở rít và hố thường đòn co lại khi hít vào. Nghẽn đường hô hấp trong ngực có thể nặng hơn khi có nhiễm khuẩn đường hô hấp. Ho mạn tính có đờm là đặc trưng của viêm phế quản mạn tính.

4.  Bệnh phổi nhu mô lan tỏa gồm nhiều bệnh từ viêm phổi đến bụi phổi, nhiễm khuẩn.

5.  Bệnh bít mạch phổi biểu hiện cơn khó thở tái phát liên tục khi nghỉ.

6.  Bệnh thành ngực hay cơ hô hấp là do gù, vẹo cột sống hoặc viêm đốt sống cứng khớp, nhưng trường hợp thường gặp là rối loạn thần kinh.

7.  Bệnh Tim, khó thở thường xảy ra do tăng áp suất mao mạch nguyên nhân do loạn chức năng tâm thất trái.

8.  Phân biệt khó thở do bệnh tim và khó thở do bệnh phổi. Với hầu hết bệnh nhân khó thở có bằng chứng lâm sang của bệnh tim và, hoặc bệnh phổi.

9.  Loạn thần kinh do lo âu. Bệnh nhân thường thở dài và thở không đều là dấu hiệu của khó thở có nguồn gốc tâm thần. lo âu, trầm cảm đi kèm với bệnh tim hoặc bệnh phổi có thể làm tăng triệu chứng khó thở .

10.  Phù phổi do bệnh tim. Tăng áp suất thành mạch phổi dẫn đến xung huyết mạch phổi là hiện trường thường gặp trong hầu hết các trường hợp khó thở kèm suy tim xung huyết.

11.   Các dạng phù phổi khác là: quá liều thuốc gây nghiện, tiếp xúc với độ cao, và phù phổi do thần kinh xảy ra ở bênh nhân rối loạn hệ thần kinhtrung ương mà không có loạn chức năng tâm thất trái.

II.  Ho và ho ra máu

1.   Ho. Có thể khởi phát do một số chất kích thích đường thở đi vào cây khí phế quản. Khi ho là do kích thích của chất tiết đường thở trên hoặc chất chứa trong dạ dày. Bất cứ rối loạn nào đưa đến viêm, co khít, thâm nhiễm hoặc chèn ép đường thở … đều có thể gây ho.

2.   Ho ra máu là sự tống máu ra ngoài theo đường hô hấp. Ho ra máu có thể là dấu hiệu của một bệnh nghiêm trọng như ung thư biểu mô phế quản.

III.  Thuốc chữa bệnh phổi, Cho đến nay vẫn chưa có thuốc đặc tri, phần lớn là dùng kháng  sinh như Penicillin, Ampicillinne liều cao.

Các bài viết liên quan
Thiết kế website chất lượng cao NAM VIỆT IT