0913 840 746
Thứ tư, ngày 15 tháng 08 năm 2018
TÌM KIẾM
TIN MỚI Y HỌC
80% BỆNH NHÂN UNG THƯ VN ĐẾN BỆNH VIỆN Ở GIAI ĐOẠN CUỐI
Mỗi năm VN có 200 ngàn bệnh nhân ung thư mới, 70 ngàn người bệnh ung thư tử vong. Trong đó, đến 80% bệnh nhân ung thư ở VN đến bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Việt Nam có 160.000 ca ung thư/năm: Vì sao ăn bẩn, độc
Mỗi năm Việt Nam có từ 130 nghìn đến 160 nghìn trường hợp mắc mới, trong đó có khoảng 85 nghìn đến 115 nghìn người tử vong do căn bệnh này.
Công bố danh sách “làng ung thư”
Theo dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số làng ung thư của VN, các nguồn nước ăn uống, sinh hoạt tại 37 làng ung thư đều ô nhiễm nặng.
Triclosan trong kem đánh răng Colgate: vạch trần hàm lượng nguy hiểm sức khỏe
Từ sau khi Triclosan được nhiều nghiên cứu khoa học công bố là làm tăng nguy cơ ung thư, nhiều hãng sản xuất hóa mỹ phẩm đã loại bỏ nó trong thành phần sản phẩm. Chất này bị cấm ở nhiều nước Âu Mỹ. Tại Việt Nam, Triclosan cũng không còn được sử dụng trong các sản phẩm kem đánh răng, trừ Colgate. Đáp lại mối lo ngại của người tiêu dùng, Bộ Y tế cho biết Triclosan được phép sử dụng nếu hàm lượng không vượt ngưỡng 0,3%.
Cung cấp thuốc kém chất lượng, công ty dược của Mỹ bị rút giấy phép
Ngoài việc bị rút giấy phép hoạt động, Công ty Ronbinson Pharma, Inc (Mỹ) phải nộp phạt 80 triệu đồng vì sản xuất thuốc kém chất lượng, trong đó có nhiều lô glucosamine
HOANG MANG VỚI VỎ THUỐC-GELATINE
Gelatin có trong mô liên kết, xương, da của động vật và là sản phẩm được sản xuất từ da heo, da bò. Từ da heo, bò, collagen được thủy phân hóa một phần để biến thành gelatin. Như vậy để bào chế thuốc là viên nang phải có vỏ nang được chế tạo từ nguyên liệu là gelatin. Và gelatin dùng trong ngành dược sản xuất thuốc phải là gelatin dược dụng.
Kem đánh răng nào ở VN có chất gây ung thư triclosan?
Khảo sát của Kiến Thức về các sản phẩm kem đánh răng hiện nay: đều ghi rõ thành phần, không ghi hàm lượng. Câu hỏi đặt ra: chất triclosan gây ung thư chiếm tỉ lệ bao nhiêu?
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

0913 840 746

GĐ : NGUYỄN CÔNG KHUÔNG

[email protected]

TƯ VẤN TRAO ĐỔI

Phuongtd Thao

TƯ VẤN - HỖ TRỢ
THỐNG KÊ TRUY CẬP
13536
Đang online: 2
Truy cập hôm nay: 5
Truy cập hôm qua: 13
Truy cập trung bình: 14
Tổng số truy cập: 13536
Your IP : 54.81.110.186
Y học Tuệ Tĩnh

TUỆ TĨNH, QUYỂN 5 - CÁC BỆNH KHÔNG ĐAU

QUYỂN V. CÁC BỆNH KHÔNG ĐAU
 
I.ĐỔ MỒ HÔI (TỰ HÃN - ĐẠO HÃN)
Chứng đổ mồ hôi nói ở đây không phải vì khó nhọc hoặc nóng nực, mà tự nhiên vô cớ đổ mồi hôi. Có 2 chứng khác nhau, tự hãn và đạo hãn. Tự hãn thì bất cứ lúc nào tự nhiên đổ mồ hôi chảy ra đầm đìa, đạo hãn thì lúc ngủ mồ hôi mới chảy ra ướt khắp mình như tắm lúc tỉnh dậy thì hết. Tự hãn thuộc về dương hư, phép chưa nên giáng hoả bổ huyết làm căn bản:
Phàm mồ hôi ra như dầu là chứng bất trị, đổ mồ hôi ra ướt đầm tóc là chứng thứ 2 bất trị, mồ hôi ra đọng giọt như hạt châu là chứng thứ 3 bất trị, còn các bệnh mồ hôi khác thì nên chữa theo các phương pháp sau đây:
1. Kinh trị chứng tự hãn và đạo hãn:
Ngũ bội tử, tán nhỏ hoà với nước miếng, đắp vào lỗ rốn, băng chặt lại 1 đêm là khỏi,
2. Kinh trị chứng tỳ vị hư ăn vào là đổ mồ hôi
Gan heo 1 miếng, thải nhỏ để lên miếng ngói, đốt lửa bên dưới cho khô giòn, tán nhỏ, nấu cháo viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 20 viên với nước trà, ngày uống 5 lần rất kinh nghiệm.
3. Kinh trị vì gió lạnh mà đổ mồ hôi
Kinh giới sắc lấy nước uống, hiệu nghiệm
4. Truyền trị chứng thưa bở thớ thịt, ngày và đêm đổ mồ hôi dầm dề và điều trị chứng thương hàn biểu hư, mồ hôi ra không ngớt.
Giấy quạt rách 3 phần, tóc rối 1 phần, cả 2 thứ đều dốt ra tro, tán nhỏ liều dùng  1đồng cân, hòa với nước thì lành ngay.
Tòan dùng giấy quạt rách không dùng tóc rối.
5. Kinh trị chứng tự hãn mãi không thôi.
Củ nghệ mài với nước, phất lên vú là lành ngay.
Hà thủ ô tán nhỏ hoà với nước miếng, đặt vào lỗ rốn là lành ngay.
Gạo trắng nghiền thành bột, gói vào miếng lụa, xoa xát luôn luôn rất hay.
6. Kinh trị chứng đổ mồ hôi trộm
Mẫu lệ tán nhỏ, luyện với mật ong làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống  10 viên với nước nóng vào lúc đói bụng.
7. Kinh trị chứng toàn thân không có mồ hôi, chỉ ở ngực mồ hôi ra không ngớt, gọi là tâm hãn, do lo nghĩ quá mà sinh ra.
Phục thần, tán nhỏ dùng lá ngải cứu sắc nước làm thang mà uống vài lần sẽ khỏi.
Long đờm thảo tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng cân, mật heo 2,3 giọt cho vào rượu nóng mà uống rất hay.
Cây hẹ mỗi lần dùng 49 gốc, đổ 2 bát nước sắc lấy 1 nửa, uống dần dần đến khỏi là thôi.
8. Kinh trị chứng hàn nhiệt hàn (nóng lạnh ra mồ hôi)
Rễ đậu giá tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng cân, thăng với nước cơm, ngày uống 3 lần là lành.
 
II- CHÓNG MẶT (HUYỀN VÂNG)
Chứng chóng mặt là tối tăm, xây xẩm choáng váng như ngồi trong chiếc thuyền con, bay trên cổ nghiêng, đứng dậy thì muốn ngã nhào.
Bệnh này phát ra thuộc phong thì đổ mồ hôi, thuộc hàn thì đau ngực, thuộc thử thì nóng nảy buồn phiền, thuộc thấp thì nặng nề trậm trệ, là do 4 thứ khí nhân hư mà phát ra.
Lại phải phân biệt nội thương hay ngoại cảm, không phải chữa theo 1 lỗi được, hoặc do thất tình uất kết sinh đờm theo khí nghịch lên mà sinh chóng mặt hoặc dâm dục quá tổn thận, thần kinh hao tổn không nạp khí về nguyên vị, làm cho khí nghịch xông lên do đó khí hư mà chóng mặt, lại sau khi mới đẻ huyết ra quá nhiều, hoặc ứ huyết không thông mà sinh chóng mặt,chữa bệnh nên linh hoạt xoay xở, không nên chấp nhất.
1. truyền trị các chứng đau đầu phong buốt óc mặt mũi tối mờ.
Hương phụ mễ, cúc hoa, kinh giới mỗi vị 1 lạng, bạc hà 3 đồng cân, đều tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đồng cân, sắc nước trà và hành làm thang, uống trước khi ăn là khỏi.
Y phương trên, gia thêm ké đầu ngựa.
Hà thủ ô, hương phụ mễ đều bằng nhau, tán nhỏ mỗi lần uống 2 đồng cân với nước trà và hành.
2. Kinh trị đầu phong, chóng mặt.
Xác ve 1 lạng, bỏ đầu râu rửa sạch, sao qua, tán nhỏ, mỗi lần uống  1 đ/c với rượu, nếu không quen uống rượu thì uống với nước đun sôi để ấm, lúc nào cũng được rất hay.
3. Kinh trị chứng phong tối mắt, sùi bọt miếng, chóng mặt muốn ngủ.
Dùng ống trúc vạt nhọn đâm vào giữa cây chuối to, cho nước chảy ra, ghé bát hứng lấy, cho uống đến mữa rất hay.
4. Kinh trị các chứng phong, đầu xây xẩm.
Lá ké đầu ngạư, phơi khô tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng cân với rượu, mỗi ngày 3 lần, đến mữa thì luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 20 viên, 10 ngày lành bệnh. thuốc này thông suốt cả đầu não, công hiệu nhanh. Kiêng ăn thịt heo.
Phương thêm gia thêm kinh giới, hương phụ, mỗi thứ đều nhau.
5. Kinh trị chứng chóng mặt nôn mữa vì lạnh sinh đờm.
Can khương nướng 2 đồng rưỡi, cam thảo sao 1 đồng 2 phân, sắc với 1 bát rưỡi nước, còn 1 nữa cho uống, đã dùng nhiều lần rất công hiệu.
6. Kinh trị phong đờm bốc lên, hoa mắt đổ mồ hôi.
Củ cải giã nhỏ, vắt lấy nước cốt, đổ hạt củ cải vào, ngâm, phơi khô tán nhỏ, sau bữa ăn uống với nước nóng là lành ngay.
 
 
III – TÊ DẠI
Chứng tê dại là do phong, hàn, thấp, 3 khí ấy hợp lại mà sinh bệnh, do khí hư do thấp đờm, tử huyết, cho nên hàn khí nhiều thì sinh ra tê nhức, thấp khí nhiều thì sinh ra tê liệt 1 chỗ, còn như không đau, không cảm giác, là bệnh lâu đã vào sâu, vinh vệ đình trệ, kinh mạch đi sai đường, cho nên không đau, còn tê không cảm giác tức là khắp mình hoặc chân tay da thịt không tự biết là của mình, cũng có lúc do huyết kém khí suy, không đủ vận chuyển mà sinh ra tê dại. Phép chữa này tuỳ chứng mà dùng thuốc.
1. truyền trị tay chân tê dại hoặc không cảm giác, không điều khiển được đã lâu thành bệnh hạc tất (đầu gối sưng to) cử động không được.
Rễ cây giun rửa sạch, thái nhỏ, dùng 1 bát, cho vào 1 cái lọ, đổ đầy rượu, nút chặt, ngoài trát bùn kín, đào 1 cái hố tròn rộng 1 thước sâu, vừa ngang cổ lọ đặt xuống rồi đổ trấu cho đầy, đốt lửa hun cháy hết lại đổ thêm làm từ 6 giờ sáng đến 5 giờ chiều thì lấy ra lại chôn xuống đất chỗ khác để trừ hoả độc, mỗi lần uống 1 chén, ngày uống 3 lần, uống lành bệnh thì thôi.
Rễ kim anh, nướng qua bỏ vỏ thô, thái nhỏ ngâm rượu uống, bệnh đau 1 năm thì uống liên tục 1 tháng, bệnh mới đau 1 tháng uống trong 5 ngày sẽ khỏi, đó là phương thuốc rất hay.
2. Truyền trị chứng tê dại, tê thấp, teo huyết, không thể đi được.
Cây lồng đèn (cây thù lù) dùng cả rễ cọng và lá, rửa sạch, kiêng đồ sắt, lấy dùi gỗ giã nát ra, phun rượu ngon vào cho ướt trộn cho đều, bỏ vào nồi đất nấu chín rồi phơi râm 3 ngày, lại phun rượu vào nấu, làm như vậy 9 lần cộng 27 lần thì được rồi tuỳ ý dùng nhiều hay ít, ngâm với rượu trong 1 cái lọ mới đem nấu cách thuỷ, bỏ 1 ít hạt thóc trong nồi, chừng hạt thóc chín nở xoè thì đem lọ ra chôn xuống đất 1 ngày 1 đêm để trừ hoả độc, mỗi ngày uống 3 lần lúc 6 giờ sáng, 12 giờ trưa, 6 giờ chiều, mỗi lần uống 1,2 chén, bệnh sẽ khỏi dần.
Dây dâu rừng 7 phần, rễ bươm bướm 4 phần, dây bạc sau 2 phần, cỏ hy thiêm 2 phần, cỏ nụ áo rễ 2 phần, cỏ roi ngựa 3 phần, rễ cây vỏ dẻ 3 phần, rễ bưởi bung 5 phần. Các vị trên rửa sạch, xát nhỏ cho được 1 đấu to, nấu cách thuỷ, bỏ thóc vào nồi, chừng thóc chín nở xoè ra là được, đem ra chôn xuống đất 1 ngày để khử hoả độc, mỗi ngày uống 3 lần, uống say là được, thuốc này không kiêng gì cả, ăn được nhiều là tốt.
3. Kinh trị chứng mình mẩy châ tay tê dại cấu không có cảm giác.
Hạt cải tán nhỏ, trộn với dấm xoa vào chỗ đau rất hay.
Nghệ vàng, quế chi cả vỏ, cúc hoa, thanh hộc, mạn kinh tử, lá thông, rễ cỏ xước rửa rượu, các vị bằng nhau tán nhỏ, sắc xong chờ ăn cơm rất lâu rồi mới uống.
Lá dâu già, sắc lấy nước đặc, thường rửa chổ đau là lành.
4. Kinh trị da bụng tê cứng, không cảm giác.
Hành tăm, nấu chín ăn nhiều vào là lành.
 
IV – BẠI LIỆT
Phụ: Liệt dương
Bại liệt là chân mền yếu không cử động đi đứng được, tay run rẩy không thể chống đỡ cất nhắc lên được.
Chứng này do âm huyết hư, hư thì sinh nóng ở trong, nóng trong thì gân bị giãn nên tay chân mền yếu: Sách nội kinh chia ra các loại, huyết nhiệt đàm thấp, khí hư huyết hư, huyết ứ… song chữa thì cốt bổ huyết làm chủ yếu, huyết đầy đủ thì gân săn, gân săn thì sức mạnh mẽ.
1. Kinh trị chứng chân bại liệt, gân rút.
Quế chi tán nhỏ, hoà với rượu xoa vào mỗi ngày 1 lần, công hiệu.
2.Kinh trị chứng lưng và chân không cử động được, co quắp lạnh đau
Xương ống chân hổ dài độ 5,6 tấc, đập vỡ cạo bỏ màng và tuỷ, bôi váng sữa hay mỡ nước vàng, tán nhỏ đựng vào túi lụa, bỏ vào hũ, đổ vào 1 đấu rượu, vần bên bếp lửa để lấy hơi nóng trong 7 ngày rồi tuỳ ý mà uống, đại tiện hơi thông thì khỏi.
3. Kinh trị chứng chân tay tê nhức.
Gà 1 con mổ bụng, bỏ ruột, dồn vào 1 nắm màn tưới và đại liền đã xắt nhỏ, chưng cách thuỷ cho chín, ăn thịt gà vài lần là lành.
4. Kinh trị chứng xương lưng mềm, chân yếu không động đậy được và khắp mình ngứa ngáy.
Hà thủ ô, rễ cỏ xước, mỗi vị 1 thăng, kiêng đồ sắt, bỏ đầu rửa sạch, tẩm rượu 7 ngày phơi khô tán nhỏ, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30-50 viên, thắng với rượu ấm hoặc nước sôi uống vào lúc đói bụng. Kiêng ăn thịt heo.
Cầu tích 1 lạng sắc uống hàng ngày.
Hà thủ ô 1 thăng, kiêng đồ sắt, dùng dao tre gọt bỏ vỏ ngoài, dùng dùi gỗ giã nát, tẩm nước vo gạo 1 đêm, lại trộn với sữa đàn bà khoẻ mạnh sinh con trai, phơi khô lại trộn lại phơi 2 lần rồi tán nhỏ, dùng đại táo nấu chín, bỏ hột lấy nhân, quyết với thuốc làm viên. Nếu bệnh thuộc hoả thì dùng mật ong luyện làm viên bằng hạt ngô đồng. Lúc đầu uống 30 viên, sau mỗi ngày uống 35 viên cho đến 100 viên là cùng. Uống với nước muối lúc đói bụng rất hay.
5. Kinh trị chứng tay chân yếu liệt, hay đi đái vặt, sắc mặt không tươi, cùng trị chứng liệt dương.
Lộc nhung 1 lạng, đốt bỏ lông thái mỏng, Hoài sơn tán nhỏ, 1 lạng, Đựng vào túi lụa, ngâm rượu 7 ngày, mỗi ngày uống 3 chén, còn xác sao khô tán nhỏ mà uống, hay lắm.
6. Kinh trị liệt dương, yếu rũ, không giao hợp được
Ngài tằm 2 lạng, bỏ đầu, bỏ cánh, sao khô tán nhỏ, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng tối uống 1 viên thì dương vật sẽ cương và bền có thể giao cấu được tốt.
Xương bồ ngâm rượu, mỗi lần uống 1 chén nước, sẽ khỏi.
Mật cá chép 1 cái, Gan gà trống 1 cái, đều sấy khô tán bột, luyện với trứng chim sẽ làm viên bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống  10 viên.
Gan gà trống 3 cái, Thổ ty tử 1 thăng, đều sấy khô tán nhỏ, luyện với trứng chim sẽ làm viên bằng hạt đậu xanh liều dùng 100 viên uống với rượu khi đói bụng, dần dần dương sự sẽ khoẻ dần lên.
Ngủ vị tử 1 thăng, sấy khô tán nhỏ, liều dùng 1 đ/c, uống với rượu, ngày uống 3 lần hết 1 tễ là kiến hiệu. bách phát bách trúng.
Rượu ngon hoà với bùn đất sét bôi lên âm mao.
Đá nam chân 1 thăng, tán nhỏ tẩm dầu mè 14 ngày, mỗi lần uống 3 chén, ngày uống 3 lần, uống lâu sẽ kiến hiệu.
Phúc bồn tử, tẩm rượu sao khô, tán nhỏ mỗi lần uống 3 đồng cân,sáng sớm uống với rượu rất hay.
Tổ ong, đốt cháy tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đồng cân với nước mới múc, uống lúc đói bụng, thì dương vật dương lên có thể giao cấu được. Hoặc lấy tàng ong đốt ra tro tán nhỏ, tối lại bôi lên đầu âm thì nóng và cương ngay.
Mẫu lệ nung chín, xà tràng tử, lá sen khô, bèo khô, các vị bằng nhau tán nhỏ, mỗi ngày dùng 3 đồng cân, sắc với 1 bát nước, sôi 4,5 dạo, đợi nguội bớt, ngâm rửa dương vật
 
V – ĐIÊN CUỐNG
Về bệnh điên cuồng không chỉ một loại. Điên thì vui cười bất thường, nói năng rối loạn, điên đảo, lặp đi lặp lại, là do tâm huyết không đủ mà phát ra. Cuồng thì cuồng loạn không còn lý trí,  nói sai thì sai, chạy bậy làm càn, đó là đảm hoả thịnh quá mà phát ra,,,,vì mừng thì hại tâm khí, giận thì hại can khí, đó là chứng tướng hoả có thừa của 2 tạng.
Chứng điên phân ra nhiều vì không thoát mãn lòng mong muốn, không đạt được sở nguyện mà sinh ra, phép chữa nên “an thần, dưỡng huyết, thanh hoả hạ đàm” là chủ yếu. Chứng cuồng phần nhiều là do hoả thịnh vị nhiệt mà sinh ra, phép chãư nên “lợi đại tiện” không nên ăn no mà trợ vị hoả.
Sách nội kinh có chép “Âm phụ vào dương thì sinh cuồng, dương phụ vào âm thì sinh điên, thoát âm thì mắt mờ, thoát dương thì thấy ma quỷ. Chính có nghĩa ấy người chữa bệnh cần chú ý.
1. Kinh trị chứng điên cuồng không ngớt vì quá sợ mà sinh bệnh.
Cuống dưa đá nửa lạng, tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng cân, hoà với 1 chén nước giếng mà uống là mửa ào ra ngay, sau đó để cho ngủ say, đừng làm giật mình thức dậy. Hay lắm.
2. Kinh trị chứng điên cuồng không ngớt vì quá sợ mà sinh bệnh
Nghệ khô 7 lạng, phèn chua 3 lạng, tán nhỏ, khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 50 viên với nước chín, rất hay.
3. kinh trị chứng cuồng hoảng như ma tà chứng điên ngộ, không ngủ, chạy đi lung tung.
Gà trống  bạch 3 con, nấu chín, nêm muối, hành, gừng cho vào vừa ăn, làm canh mà ăn rất hay.
4. Kinh trị chứng điên cuồng, 5 chứng kinh phong
Hoàng đơn, phèn chua đều 1 lạng, dùng 1 hòn gạch khoét 1 lỗ cho vừa, bỏ đầy 2 vị, hoàng đơn bỏ ở dưới, dùng 5 cân than gỗ, nung gạch làm cháy hết số than, lấy ra tán nhỏ, trộn đuề với huyết hậu trong tim heo chưa chạm với nước làm lạnh làm viên bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 30 viên, tần bì cạo lớp vỏ trắng nấu lấy nước làm thăng mà uống là khỏi.
5. Kinh trị chứng tâm bệnh, điên cuồng mê hoặc.
Cơm rượu cái chưa cất 1 bát, dầu mè 4 lạng, đem 2 vị trên chưng lên, dùng 20 cành dương liễu mà quấy, mỗi cành quấy 1,2 vòng cho dầu và rượu trộn đều  như cao, còn lại 8 phần thì đổ cho uống, để cho ngủ say, hoặc mảư hoặc không, khi ngủ dậy là tỉnh ngay.
6. Kinh trị chứng thiên thời cuồng nhiệt.
Củ chuối, giã vắt lấy nước cốt cho uống, khỏi ngay.
7. Kinh trị chứng cuồng loạn không biết gì.
Đất lòng bếp, tán nhỏ mỗi lần dùng 3 đồng cân, uống với nước, ngày 3 lần.
8. Kinh trị chứng điên cuồng hoặc trúng nhiệt, nói như tiếng ma, quỷ, làm cho người kinh sợ.
Trùn đất 2,3 con, giã nát hoà với nước giếng mà uống thì yên.
9. Kinh trị chứng nói điên cuồng như tiếng ma quỷ.
Chẫu chàng 1 con, đót cháy, tán nhỏ, uống với rượu là bớt.
10. Kinh trị chứng cười suốt ngày không ngớt
Muối rang cháy đỏ, tán nhỏ, uống với nước sông đã nấu sôi, lấy lông chim ngoáy vào trong họng, mửa ra nhiệt đờm vài thang là khỏi.
 
VI - ĐỘNG KINH
Chứng động kinh thì khi lên cơn  thì ngã nhào, mê man, múa máy, cắn răng, sùi bọt mép, lưng uốn ván, xương sống cứng đờ, mắt trợn ngượuc, tay chân co quắp, tiếng kêu như tiếng lục súc.
Nguyên nhân bệnh động kinh hoặc vì lo sợ thần khí không tự chủ được hoặc do lúc trong thai, mẹ bị kinh sợ, lúc sinh rồi con mang lấy tật ấy.
Bệnh  động kinh chia làm 5 thứ khác nhau, chứng nào trong 1 tháng lên cơn vài lần là chứng thực dễ trị, một năm mới lên cơn 1 lần là chứng hư khó chãu, thực thì công mà hư thì bổ, tuỳ chứng mà ứng biến để trị.
Chẫu chàng, chẫu chuột cũng là nó, thấy ở ao hồ miền bắc, giống như nhái mà không phải nhái, tiếng kêu chẫu chuột.
1. Truyền trị động kinh rất công hiệu.
Thạch xương bồ bỏ lông, 2 lạng, Thần sa 6 đồng cân nghiền nhỏ, thuỷ phi, một nảư trộn vào thuốc, một nửa để làm áo.
Hai vị nghiền nhỏ, trộn bột gạo với máu tim heo khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng. Thần sa làm áo, mỗi lần uống 70-80 viên với nước chín, vào lúc đói, là khỏi.
Chua me đất, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt mỗi lần uống nửa bát, ngày 1 lần công hiệu.
Óc heo nấu với nước rửa rượu đến chín, ăn lúc đói bệnh mới phát 1 năm thì ăn 3 cái óc, 2 năm thì 6 cái, cứ tính mỗi năm thêm 3 cái rất hay.
Cứt gà mái, chọn thứ tinh, 1 vốc, rang khô, tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng cân với rượu vào lúc đói rất hay.
 
VII – CHÓNG QUÊN
Chóng quên là bỗng chốc liền quên, việc vừa làm xong là quên, lời vừa nói đã quên vì lo nghĩ thái quá, thương tổn đến tâm, tâm đã thương tổn thì huyết rất hao kiệt mà tâm thần không giữ vững, lại hại đến tỳ thì vị khí suy yếu, lo nghĩ lại càng sầu, cho nên bệnh này phát ra đều bởi 2 tạng tâm và tỳ, phép chữa nên an thần dưỡng nguyệt, bớt tư lự, trừ ưu phiền, thì mới bảo đảm được khỏi bệnh
1. Kinh trị chứng tâm thần không định, hoả không giáng, thuỷ không thăng, chóng quên kinh sợ hồi hộp.
Thạch xương bồ, ngày 7 tháng 7 đào lấy rễ kiêng đồ sắt, dùng dùi gỗ đập vỡ nát, tẩm nước vo gạo, phơi khô tán nhỏ, mỗi lần 1 đồng cân, hoà với rượu uống, uống được lâu ngày thì tinh thần thêm sáng suốt.
2. Kinh trị chứng tâm thần mê muội, hay quên.
Dùng các quả tim bò, ngựa, gà lợn đều bằng nhau, thái nhỏ, phơi khô, tán thành bột mỗi lần uống 1 đồng cân với rượu, ngày uống 3 lần thì nghe 1 biết mười.
3. Kinh trị chứng chóng  quên.
Phương này có thể trấn tỉnh tâm thần, khai thông tam khiếu.
Khoai mài bỏ vỏ, phơi khô tán nhỏ, mỗi lần ăn 5 đồng cân với nước cháo trắng vào lúc đói rất hay.
4. Kinh trị chứng tim yếu chóng quên, làm cho tỏ tai sáng mắt.
Cành đào hướng đông, đến ngày 5 tháng 5 AL, cắt lấy 2 tấc mà gối đầu. Rất hay.
Mai ba ba 1 miếng, treo trong quần áo hoặc dùng tơ mạng nhện vo thành viên nhét trong quần áo.
5. Kinh trị chứng chóng quên bài này bổ tâm, ích khí, tăng tâm chỉ, sáng tai sáng mắt.
Hạt sen, bỏ vỏ, và tâm, mỗi sáng nấu cháo trắng lấy nước cháo 1 bát, hoà 2 đồng cân bột sen vào nấu, nấu sôi 1,2 dạo nữa rồi ăn, ăn được càng lâu, công hiệu càng lớn.
 
 
VIII – KINH SỢ HỒI HỘP
Kinh sợ hồi hộp là bỗng nhiên kinh sợ hình như có người đuổi bắt mà run rẩy không yên. Bởi vì phần cốt yếu của con người là tâm mà tâm là nhờ huyết nuôi dưỡng, khi tâm huyết đã hư dao thì tâm huyết không giữ vững mới thành bệnh.
Phàm chóng quên, kinh sợ hồi hộp, rạo rựa là 3 chứng dù tên có khác nhau mà bệnh thì giống nhau, cho nên phép chữa thì hễ người gầy, thiếu huyết là tâm hoả suy kém thì nên bổ huyết cho sung túc, người béo nhiều đờm là tâm hoả ứng tắc thì nên trừ đờm  cho khai thông, đó là lời bàn rất xác đáng.
1. Kinh trị chứng tim hồi hộp
Ma hoàng bỏ mắt, bán hạ (chế gừng) 2 vị bằng nhau tán nhỏ, luyện mật viên bằng hột đậu xanh mỗi lần uống 3 viên với nước nấu sôi, ngày 3 lần là công hiệu.
2. Kinh trị chứng bỗng nhiên kinh sợ, chết ngất.
Rượu ấm đổ vào thì tỉnh ngay.
3. Kinh trị chứng đờm sục, mê tâm ra kinh sợ.
Gây nôn, cuống dưa đá sao, đậu đỏ, mỗi vị 1 đồng cân đuề tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng, dùng đậu sị 1 vốc nấu nước làm thang mà uống, cho mửa hết các chất đờm độc, thì khỏi. Nếu mửa hết đờm dãi rồi mà còn mảư nữa thì uống nước lạnh là hết mảư.
4. Kinh sợ chứng can bị hoả tà, sinh ra kinh sợ.
Huyền lô, hoài sơn, toan táo nhân sao, long đờm thảo, bá môn tử, hậu phác tẩm gừng sao, các vị bằng nhau, gừng sống 3 lát, sắc lên lại thêm 1 chén trúc lịch uống vào lúc đói thì yên.
5.  Kinh trị chứng kinh sợ hồi hộp.
Bá tử nhân, sao qua, Hương phụ mễ, toan táo nhân sao qua, các vị bằng nhau., tán nhỏ mỗi lần 2,3 đồng cân, dùng mạch môn bỏ tím, sắc nước uống, vào lúc đói. Uống được lâu thì bổ ích lắm.
 
 
IX - RẠO RỰC
Rạo rực là trong bùng bối rối không yên, bởi vì điều dưỡng không đúng cách, vinh vệ không điều hoà, làm cho khí huyết có chỗ chênh lệch, hoặc dương hư mà ngoại hàn, hoặc âm hư mà trong nhiệt, hoặc dương thịnh mà ngoại nghiệt, hoặc âm thịnh mà trong hàn. Địa khái, chứng này sinh ra đều thuộc nhiệt, cho nên người bị tổn thương thì thuỷ hao kiệt mà sung hoả nóng lên thượng tiêu mới sinh ra chứng này, phép chữa nên suy lẽ đó mà dùng thuốc.
1. Kinh trị chứng nóng âm ỉ, phiền nhiệt.
Lá thanh hao 1 nắm, mật héo  cái trích lấy nước, hành nhân 40 hạt bỏ vỏ và đầu nhọn, Dùng đồng tiện 1 bát mà sắc thuốc, lấy nửa bát uống vào lúc đói, công hiệu.
2. Kinh trị chứng hư nhiệt.
Nhạư đào 1 viên lớn bằng viên đạn, mỗi ngày ngậm 1 viên, tuyệt diệu.
3. Kinh trị chứng sau khi bị bệnh nặng, biểu lý đều hư, tâm dịch khô kiệt, bụng ráo miệng khát, và mọi chứng hư phiền nóng, giống như thương hàn, chỉ khác là thân hình không đau nhức, không sợ lạnh, cho nên chớ dùng thuốc phát hãn hoặc hạ lợi.
Đạm trúc diệp, Mạch môn bỏ lõi, hai vị bằng nhau, sắc cho uống là yên.
4. Kinh trị chứng trong bụng rạo rực, ảo não không ngủ được:
Nước măng tre, bạch phục linh 1 lạng, tán bột hoà vào cùng sắc lấy nửa bát, uống vào lúc đói là khỏi.
5. Kinh trị chứng nóng dữ quá mà tâm phiền.
Dành dành sao cháy tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c với nước cơm rất hay.
Đậu sị 1 vốc, đậu đỏ nửa vốc, dành dành bỏ vỏ, 8 ,9 quả. Sắc uống nóng, công hiệu.
Mía ngọt ép lấy nước được 1 bát. Gạo nếp 1 nắm cùng nấu cháo cho ăn lúc đói và ăn thường xuyên rất hay.
 
X- MẤT NGỦ.
Mất ngủ có 3 nguyên nhân: người giá yuế dương suy hay khi ốm mới khỏi còn yếu mà không ngủ được, đâm tụ ở đởm kinh, thần không yên mà không ngủ. Lại có chứng tam kinh nóng phần, đởm kinh hàn lạnh mà ngủ không được. Phép chữa: hư thì phải bổ, nhiệt thì phải thanh, đờm thì phải đạo đó là đúng đích.
1. kinh trị chứng đởm hư, nằm ngủ không yên trong lòng kinh sợ
Bán hạ 5 vốc, dùng nước chảy 8 thăng, khuấy rất nhiều vòng, lắng lại lấy nước trong 6 thăng dùng củi lau đun sôi bùng lên cho vào 1 thăng gạo nếp với bán hạ, nấu đến còn 1 thăng rưỡi  nữa thì được,mỗi lần uống 1 chén, ngày uổng 3 lần đến khi khỏi thì thôi.
2.Kinh trị mất ngủ do âm hư, dương khí thiên thắng âm dương mất điều hoà.
Toan táo nhân 1 lạng, sao chín thơm tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đồng, sắc nước lá tre mà uống bất cứ lúc nào thì ngủ được.
3. Kinh trị chứng khó ngủ, đêm nằm không nhắm mắt.
Dùng tim bấc nấu nước thay trà mà uống thì ngủ được.
4. Kinh trị chứng ngày đêm trương mắt ngủ không được.
Đậu đen nấu nóng cho vào 1 cái túi đem gối đầu, nguội lại thay, cứ gối cho suốt 5 canh, lại lấy vải mới hơ nóng chườm lên mắt là ngủ được.
5. Kinh trị chứng mất ngủ do hư lao.
Can khương tán nhỏ, uống với nước nóng 3 đồng cân hơi đổ mồ hôi là ngủ được.
6. Kinh trị chứng cứ đến đêm thì ríu ríu buồn ngủ.
Mắt chuột 1 cái, đốt tồn tính tán nhỏ, hoà với nước tra vào mắt là khỏi.
7. Kinh trị chứng hay ngủ, ngủ mê ngủ mệt không đánh thức được.
Xương đầu ngựa đốt cháy thành tro tán nhỏ,mỗi lần uống 1,2 đ/c với rượu, ngày uống 3 lần, uống với nước nóng cũng được.
Toan táo nhân để sống tán nhỏ, liều dùng 2 đồng cân uống với nước trà có gừng rất hay.
 
XI - QUYẾT CHỨNG
Quyết  chứng là chân tay. Khí thuộc dương, dương hư thì âm lấn vào sinh giá lạnh, huyết thuộc âm, huyết hư thì dương phát vào nên phát nóng, đó là 2 chứng trạng âm dương đối lập nhau. Phàn quyết chứng phát ra cũng tương tự như trúng phong, nhưng khác nhau ở chỗ trúng phong thì người ấm còn quyết  chứng thì người lạnh. Nên phải xét cho đúng chứng mà chữa.
1. Kinh trị các chứng thoát dương, chân tay giá lạnh bất tỉnh nh6an sự, hoặc ruột non đau quặn, đổ mồ hôi, suyễn thở.
Muối sao nóng, đem chườm trên rốn cho ấm thì khỏi.
2. Kinh trị âm chứng hư hàn, thấp lạnh, phiền táo, đau ruột, mạch không thấy, rất nguy.
Lưu hoàng 3 đồng cân, tán nhỏ, sắc nước lá ngiả cứu hoà vào mà uống, nằm ngủ ra mồ hôi là khỏi.
 
XII - CỐ LÃNH.
Cố lãnh là chỉ lạnh mà không nóng, người ta khí bẩm không giống nhau, có người khí bẩm nhiệt, có người khí bẩm hàn, chứng cố lãnh và chứng nóng đối lập với nhau. Chứng cố lãnh phát ra vì chân dương mà yếu sinh bệnh, hoặc nằm ngồi vào chỗ gió sương lạnh, mà ngoại tà xâm nhập, hoặc ăn uống phải đồ nguội lạnh sống sít, tích lại tạng phủ thành bệnh. bệnh này có người tay chân giá lạnh, có người đau bụng lâu tả lị, không ngừng, có người lưng đùi đau trệ, nặng trĩu như ngồi trong nước, có người liệt dương không cương, tính lạnh tự ra, có người nôn mữa lâu mà bụng đầy, ăn uống không được, có người tự đổ mồ hôi, lạnh run, phép chữa nên tuỳ ý theo bệnh chứng mà xử lý.
1. Kinh trị đau bụng, mình lạnh thuộc âm chứng.
Lưu hoàng  4 phân, hồ tiêu 6 phân, tán nhỏ mỗi lần dùng 2 phân, uống với rượu là khỏi.
2. Kinh trị âm chứng, ngọc hành rút lại, đái không thông.
Gà mái béo 1 con, dùng dao mổ phanh trên lưng rồi banh rộng ra, để nguyên đem áp lên rốn, lại cho người đạp lên trêncon gà, hồi lâu nóng thấu vào, tiểu tiện được thì khỏi.
Hồ tiêu, can khương mỗi vị 2 đ/c  tán nhỏ, trộn với nước bọt, đặt lên trên miếng giấy mà đắp lên trên ngọc hành, nằm nghiêng thì kiến hiệu ngay.
3. Kinh trị âm chứng bí phương:
Lưu hoàng chứa vào nồi đất đun cho chảy ra, rồi rót cả vào chậu nước giếng cho nguội, lấy ra tán nhỏ, luyện hồ làm viên bằng hạt ngô đồng. Cho uống mỗi lần 1đ/c với rượu bệnh chuyển ngay.
Đậu đen bất cứ nhiều hay ít, sao già đổ rượu vào, đậy kín lại cho khỏi bay mất hơi, chờ nguội uống, rất hay.
Hạt cải 7 đồng, can khương 3 đ/c đều tán nhỏ, trộn với nước, nặn thành bánh, đem đắp  vào rốn, tay giữ chặt lại, rắc lênít muối rồi dùng cái âu đồng có đựng, than hồng chườm lên vài lần cho ra mồ hôi. Lại nắm ngọc hành người bệnh kéo ngược lên rốn, đầu ngọc hành chấm tới chỗ nào thì cứu tại chỗ đó 7 mồi rất hay.
4. Truyền trị chứng khí lạnh ở hạ tiêu:
Trần bì 1 thăng, rửa nước sôi qua tán nhỏ, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng mỗi lần uống 39 viên với rượu vào lúc đói.
5. Truyền trị tất thảy các chứng khí lạnh, bụng đau, hoặc do khí độc tà độc mà sinh ra bệnh:
Can khương tán nhỏ, dùng lá ngiả cứu tươi giã nát nhỏ vắt lấy nước, hoà vào làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 10 viên, tăng thêm dần dần đến 20,30 viên, bệnh lành thì thôi.
6. Truyền trị bệnh đau, bụng thuộc âm chứng, sắc mặt xanh nhạt.
Cứt chim bồ câu 1 vốc sao vàng tán nhỏ, cho vào 1 lít rượu, khuấy đều, đợi lắng trong bỏ cặn, tuỳ ý mà uống.
7. Kinh trị chứng tạng lạnh, đau bụng, uống thuốc này ôn hoà được vị khí:
Hương phụ mễ tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c, dùng gừng 10 lát, muối 1 nhúm sắc làm thang mà uống.
8. Kinh trị tát cả các chứng khí lạnh
Hạt tía tô, củ riềng, tr6àn bì các thứ đều tán nhỏ, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 20 viên với rượu vào lúc đói rất hay.
 
XIII – PHÁT NHIỆT
Chứng phát nhiệt là nóng hầm hập ở ngoài da, khác với chứng sốt cơn và chứng nóng lạnh, sốt cơn là lúc lên cơn đều đúng giờ giấc không sai, nóng lạnh thì hết nóng tiếp lạnh, còn phát nhiệt là nóng luôn không ngừng, nhưng có bệnh thì do cảm mạo thời khí, có bệnh thì do lo nghĩ lao phiền, cho nên phải phân biệt ngoại cảm nội thương, thực nhiệt, hư nhiệt khác nhau, nếu không phân biệt rõ ràng  mà chấp nhất bất thông nhận định sai lầm, tức là thầy thuốc giết người chứ không phải mạng người đánh chết.
1. Kinh trị chứng phát nhiệt do chứng nhọc mệt quá.
Quả bồ kết sắp liền nhau đo được 1 thước , dùng mỡ hoặc váng sữa bôi vào, đem nướng cho tiêu hết váng sữa thì được, tán nhỏ luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 15 viên, dần dần uống thêm 20 viên, uống với nước chín, bệnh nặng không quá tễ là khỏi.
2. Kinh trị chứng phát nhiệt, miệng khô, tiểu tiện đỏ gắt.
Ăn nhiều mía thì rất tốt.
3. Kinh trị chứng chóng mệt, phiền nóng, mình gầy.
Hạt bồ kết, vỏ trắng cây bồ kết, gai bồ kết, đều bằng nhau, đốt cháy tán nhỏ, dầm nước, lại gạn đi, lại dầm lại gạn cho được 5 lần rồi đem nấu cho cạn nước, đợi đông lại hoà vào 1 ít xạ hương, lại tẩm thêm 1 ít, Đồng tiền rồi tán nhỏ, khuấy hồ làm viên bằng hạt đậu, mỗi lần uống 7 viên vào lúc đói rất hay.
4. Kinh trị chứng âm hư, nóng âm ỉ và lao nhiệt.
Thanh cao cả cây lá, hoa rễ rửa sạch, dùng nước sông nấu cạn còn phân nửa lọc bỏ bã, nhỏ lửa cô thành cao, mỗi lần dùng nửa chén hoà vào nước đái trẻ con mà uống vào lúc đói, Thuốc này rất bổ, trị bệnh lao thương
Nước đái trẻ con dưới 7 tuổi, 3 bát, sắc còn 1 bát, hoà vào 1 bát mật ong, uống vào lúc đói, bệnh nhẹ thì 20 ngày, bệnh nặng thì 50 ngày là yên.
Uống thuốc được 20 ngày mà có sâu từ trong mình ra, hoặc nước đái bệnh nhân cách xa 10 bước vẫn ngửi rất hôi, là khỏi.
Quả dành dành sao gần cháy, tán bột mỗi lần uống 2 đồng dùng 6,7 lát gừng sắc lấy nước mà uống lúc đói rất hay.
5. Kinh trị chứng bệnh nhiệt khỏi rồi, nhưng nọc độc còn lại, công ra tay chân đau nhức rã rời.
Rượu lúa nếp đốt ra tro, bỏ vào nước nấu lên, ngâm tay chân vào là yên.
 
XIV – TIÊU KHÁT
ĐÁI ĐƯỜNG
Tiêu khát là chứng trên thì muốn uống nước, dưới thì ngày đêm đi rất nhiều, và do dâm dục quá độ, trà rượu không chừng, hoặc ăn nhiều đồ xào nướng, hoặc thường uống thuốc bằng kim thạch làm cho khô kiệt chtấ nước trong thận, khí nóng trong tim cháy rực, tam tiêu nung nấu, ngũ tạng khô ráo, từ đó sinh ra chứng tiêu khát. Nhưng bệnh sinh ra tam tiêu khác nhau, bệnh ở thượng tiêu là phổi, uống nhiều ăn ít, đại tiểu tiện như thường đó là tâm hoả nung nấu, phế kim mà sinh ra khát, bệnh ở trung tiêu là dạ dày, ăn nhiều, uống nhiều mà tiểu tiện vàng đỏ, đây là vì dạ dày huyết nhiệtđồ ăn mau tiêu chóng đói. Trong huyết có hoả nung thì chất nước khô ráo mà sinh ra khát, bệnh ở hạ tiêulà thận, tiểu tiện đục đặc như cao, phiền khát, uống nhiều nước, dần dần vành tai đen xám, tiểu tiện đi luôn. Nếu ăn được tất sẽ phát ung thư và ghẻ lở ở lưng nếu không ăn được thì bệnh sẽ truyền vào trong bụng mà đầy trướng. Phép chãư phải phân biệt từng bệnh mà chọn phương thuốc.
1. Kinh trị khát của bệnh bách hợp ( ốm lửng, ốm giả cách)
Thiên hoa phấn, mẫu lệ sao, 2 vị bằng nhau tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng với nước nóng, bệnh tự lành.
2. kinh trị khát ở tam tiêu:
Bông lúa nếp, rễ dâu cạo vỏ ngoài 2 vị đều nhau, mỗi lần dùng 1 lạng, sắc với 2 bát nước mà uống rất hay.
Lấy nước vo gạo nếp uống nhiều, đến lúc bệnh khỏi thì thôi.
Nước ươm tơ uống lúc nào cũng công hiệu, , hoặc kén độ (kiển xác), nấu nước uống thay cũng được.
Nước trụng  gà trống để nhổ lông, lắng trong mà uống.
3. Kinh trị chứng tiêu khát, mỗi ngày uống đến 1 thạch nước.
Bèo ván tía rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước cất uống đến khỏi thì thôi.
Hạt Y dĩ tán nhỏ, cùng với gạo tẻ nấu mà ăn là khỏi.
Cỏ Kim cang dại nửa lạng thái nhỏ, ô mai 4 quả, sắc với 3 bát nước còn 1 bát, uống nóng thì khỏi.
Lá hẹ mỗi lần dùng 3,5 lạng, hoặc luộc chín hoặc nấu canh, nêm vào ít muối hoặc tương cũng được, ăn đến 10 tháng là khỏi.
Bí đao 1 quả lột bỏ chôn xuống đất ấm tới 1 tháng lấy lên bổ ra lấy thứ nước trong giữa ruột mà uống hàng ngày, hoặc đốt chín vắt lấy nước mà uống thì khỏi.
Đậu sị nấu mà ăn bao nhiêu cũng được.
Đậu sị 1 vốc, ô mai 7 quả, sắc uống ngày 5 lần rất hay.
Đậu đen tán nhỏ dồn vào trong cái túi mật bò, phơi râm 100 ngày, làm viên mỗi sáng uông1 viên, uống hết là khỏi.
Nấu cháo đậu xanh mà ăn, hoặc nấu lấy nước mà uống là khỏi.
Lấy 3 củ cải củ đã già, rửa sạch cắt nhỏ, phơi khô tán nhỏ, mỗi lần uống  1 đồng, tăng dần lên 3 đồng, nấu nước thịt heo, lắng trong mà uống với thuốc, ngày uống  3lần hoặc để nguyên cải tươi giã vắt lấy nước uống, hoặc lấy nước cốt nấu cháo mà ăn đều công hiệu.
Gừng tươi phơi khô tán nhỏ, hoà với nước mật cá diếc, làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 7 viên với nước cơm, hoặc trộn vào ít cơm càng tốt, nhưng không dùng muối.
Nước măng tre bỏ vào ít nước gừng, tha hồ uống thay nước trà, không quá 3 ngày thì khỏi.
Rễ tầm xuân rửa sạch, cắt nhỏ mỗi lần sắc 1 nắm mà uống lúc đói bụng
Phân tằm rang khô tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đồng với nước lạnh, chỉ uống vài lần là kiến hiệu.
Cá diếc 1 con bỏ ruột, lấy lá trà nhét vào bụng, bọc nhiều lớp giấy đem nướng chín mà ăn, 3,4 lần là khỏi.
Ốc bươu 5 con rửa sạch, đổ vào trong cái bát tô, âm 1 đêm, hễ bệnh nhân khát thì chắt nước ngâm ốc cho bệnh nhân uống mỗi ngày thay ốc khác 1 lần.
Dùng gạo nếp 2 vốc nấu cháo loảng, bắt ốc bươu rửa sạch thả vào trong cái chậu đã đổ cháo, đợi cho ốc ăn hết cháo và nhả nhớt ra, múc nước nhớt mà uống, kiến hiệu ngay.
Dạ dày heo đực 1 cái, đậu sị 1 đồng, nấu với nước mà ăn cả cái là lành bệnh.
4. Kinh trị người lớn, trẻ con nóng khát lâu ngày không khỏi.
Củ sắn dây, nấu nước thường uống.
Ngó sen tươi giã lấy 1 bát hoà với mật ong, ngày uống 3 lần rất hay.
Hoà sữa người với mật ong, mỗi thứ 1 nửa nấu sôi lên, uống nhiều càng hay, lúc mới uống thấy lợi đại tiện thì tốt.
5. Kinh trị chứng tiêu khát, uống nhiều nước, các đốt xương phiền nóng.
Củ chuối giã vắt lấy nước cốt thường uống, mỗi lần 2 đ/c là công hiệu
Ô mai nhục 2 lạng, sao qua tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c nước 2 bát sắc còn bát, cho đậu sị vào 200 hạt, lại sắc còn nửa bát, uống lúc đói bụng thì hay.
6. kinh trị chứng tiêu khát do thận hư, rất khó chãư.
Hạt tía tô, hạt cải củ, đều sao mỗi vị 3 lạng, tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c dùng vỏ trắng rễ dâu sắc nước mà uống, ngày 3 lần.
7. Kinh trị tiêu khát do thận hư, rất khó chữa.
Đậu đen, thiên hoa phấn, 2 vị đều nhau tán nhỏ, khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 70 viên, sắc nước đậu đen mà uống, ngày 2 lần rất hay.
8. Kinh nghiệm phòng ung nhọt sau tiêu khát đã khỏi.
Hoa kim ngân hoặc rễ, cành hay lá cũng được, bất cần nhiều hay ít, bỏ vào cái ấm, đổ cơm ủ men rượu vào đun lửa trấu 1 đêm, lấy ra phơi khô thêm vào ít cam thảo tán nhỏ, lấy thứ rượu đã tẩm trước mà khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 50 viên dần dần tăng lên 100 viên, uống với rượu nhạt, phương này chẳng những phòng được ung thư mà còn trị được chứng tiêu khát.
 
 
XV – NĂM CHỨNG ĐẢN
( VÀNG DA)
 
Năm chứng đản là mồ hôi vàng ( hoang hãn), vàng da (hoàng đản) tích rượu mà vàng da (tửu đản) ăn không tiêu mà vàng da (cốc đản), dâm dục quá mà vàng da (nữ lao đản). Đại khái đều là bệnh vàng da cả, vì tỳ phạm thấp nhiệt, mà tỳ vốn là thổ tính sắc vàng,nên phát bệnh thì khắp mình mẩy đều vàng, tay chân mỏi rũ, ăn uống kém sút, tiểu tiện đỏ gắt, nhưng bệnh này thì không đau nhức, giống như nước như lửa, không gươm không giáo mà hay giết người. Bởi vì tỳ vị của mỗi tạng phủ khác, mà đã ốm thì làm sao mà yên cho được. Phép chữa phải chia trên dưới để xử lý, như thấp ở trên thì cho phát hãn, thấp ở dươí thì cho lợi tiểu tiện, dùng 2 cách đó để tiêu trừ, thì bệnh sẽ khỏi.
1. Kinh trị chứng vàng da mới phát.
Cành liễu sắc lấy nước thật đặc, mỗi lần uống nửa thăng rất hay.
2.    kinh trị chứng khắp mình và mặt đều như giấy vàng.
Nhân trần 1 nắm, chi tử 24 quả, 2 bát nước sắc lấy nước bỏ bã, dùng thạch cao 1 cục nướng chín đỏ, bỏ vào trong nước thuốc cho tan mà uống nóng, trùm mền kín cho ra mồ hôi, lại dùng phấn xoa khắp mình.
Chi tử bỏ vỏ, chỉ thực bỏ  ruột, mỗi lần dùng 1 đ/c, đậu sị 5 đồng, nước 1 bát nấu sôi, uống nóng rất hay.
Gia thêm 2 đồng cát căn 5 phân cam thảo nướng vàng.
Hạt cải củ sao tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đ/c với nước cơm, ngày uống 3 lần rất hay.
3. Truyền trị mọi chứng vàng da, hoặc đi tiểu luôn, hoặc đi tiểu ra máu đều dùng được.
Mật 5 ong nửa bát, gừng sống 5 lát, nước mới múc 1 bát, sắc uống ngày 2 lần, tiểu tiện dần dần trong lại mà bệnh vàng da cũng khỏi.
4. Truyền trị mọi chứng vàng da
- Rễ bươm bướm rửa sạch, sắt miếng 1 vài nắm, đổ nước vào sắc lấy nửa bát, uống vào lúc đói rất hay.
Ốc bươu ngâm vào nước cho nhả bùn, đem nấu chín, lấy ruột ốc ăn và uống cả nước, lấy vỏ ốc nung thành vôi tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đồng với rượu rất hay.
 Hạt đình lịch, lát giấy lên nồi, bỏ hạt vào rang, cỏ thanh ngâm, sơn chi tử, nhân trần, hoàng cầm các vị đều nhau, sắc uống rất hay.
- Phương trên có cam thảo, chỉ thực mà không có Hoàng cầm.
Trứng gà 1 quả, để cả vỏ, nướng khô tán nhỏ, hoà với giấm 1chung, uống nóng thấy trùng trong lỗ mũi ra là công hiệu, mình mẩy có vàng lắm uống 3 lần là khỏi.
Trứng gà trộn với Gạo trần mễ mà nấu cháo, mỗi sáng ăn mỗi quả lâu ngày rất bổ ích.
Chẫu chàng 1 con, phèn đen 3 đồng, cùng dồn 2 thứ vào mề con gà trống, đem nấu chín thật nhừ bỏ chẫu chàng ăn mề gà, rất hay.
5. Kinh trị da vàng như màu vàng thật.
Rễ cây đào, đào lúc mờ sáng đừng cho đàn bà, gà chó thấy , lấy rễ hướng đông, chọn thứ rễ lớn bằng chiếc đũa 1 nắm, xắt nhỏ, sắc với 1 bát nước đến khi còn nửa bát cho uống, vào lúc đói, sau 3,5 ngày màu vàng sẽ nhạt dần, 100 ngày mới thật hết vàng, nên thường  uống 1 chén rượu cho dễ tan, nếu không thì tan chậm, không ăn mì nóng, thịt heo và cá, rất công hiệu.
Dây nho rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt 1 thăng mà uống, bệnh lâu năm thì ngày uống 2 lần.
Rễ cỏ bấc 4 lạng rượu và nước mỗi thứ 1 nửa, nấu nảư ngày phơi sương 1 đêm mà uống là khỏi.
Gừng sống giã nát, thường mang theo mà xát vào mình thì bệnh sẽ lành.
Phương trên thêm nhân trần giã lẫn với gừng mà xát thì khỏi.
Rễ ý dĩ, sắc uống hoặc giã vắt lấy nước, hoà với rượu mà uống rất hay.
Cuống dưa đá, đinh hương 2 thứ đều 49 cái, cùng bỏ vào nồi, đốt tồn tính tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đồng tiền xúc, thổi vaà trong mũi để cho chảy nước vàng ra, hay xát vào răng cho chảy nước miếng ra cũng được.
Hạt mã đề, hoà vào uống nước 3,5 ngày là khỏi. Hoặc uống với nước cơm cũng được.
6. Kinh trị chứng vàng da vì tích ăn.
Xơ mướp để hạt, đốt tồn tính tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đồng, nếu vì ăn mì nhiều mà sinh bệnh thì uống với rượu nóng luôn vài lần là khỏi.
7. kinh trị chứng kinh giản da vàng như thật, ham ngủ, chảy nước miếng.
Nhân trần, bạch tiểu bì, 2 vị bằng nhau, nước 1 bát sắc sôi vài dạo, mà uống, mỗi ngày 2 lần công hiệu.
8. Kinh trị mọi chứng vàng da, mồ hôi ra vàng như nước hoàng bá.
Mỡ heo 1 cân, rán lấy nước bỏ tóp, mỗi ngày uống 2 lần, đại tiện ra được phân táo rắn thì thôi, công hiệu.
9. Kinh trị vàng da, tức thở, tiểu tiện, tự lợi, không nên trừ nhiệt.
Chế bán hạ, Gừng sống, đều nửa cân, đổ 7 thăng nước sắc còn 1 thăng rưỡi, chia uống 2 lần, có người bị khí kết mà chết, nhưng tim còn nóng, lấy thuốc này đổ vào miệng 1 ít là sống lại ngay.
10. Truyền trị đau mới khỏi, da vàng bụng trướng to, tiểu tiện không thông.
Lá hẹ giã nát cùng với bã rượu và muối trộn đều, đặt vào rốn, buộc chặt lại là khỏi.
11. Kinh trị da thâm đen (Hắc đản)
Thiên hoa phấn 1thăng giã nhỏ, vắt lấy nước cốt 6 chung, uống dần dần.
12. Kinh trị chứng da vàng rất nguy hiểm
Gà trống to, lấy dao mổ trên lưng, để cả lông và huyết nhân lúc còn nóng ấp vào ngực bệnh nhân, chờ nguội thì làm con khác, ngày đổi 3,4 con thì hút hết tính độc ra, còn gà chôn đi, không ăn vì rất độc.
13. Kinh trị chứng tích rượu vàng khắp mình.
Rễ hoa hiên, giã vắt lấy nước cốt mà uống, hay lắm.
Nhân trần 4 gốc, dành dành 7 quả, ốc bươu 1 con cả vỏ, 3 thứ đều giã nát, nấu sôi 100 dạo, hoà vào 1 bát rượu mà uống, đây là phương thuốc bí truyền.
Nhân trần 1 lạng, rượu ngon 1 chén rưỡi. Sắc lấy 8 phần uống nóng vào lúc xa bữa ăn, chỉ uống vài lần là khỏi.
Kinh phương: Hạt gấc mài vào giấm (1-2 chén) uống.
Các bài viết liên quan
Thiết kế website chất lượng cao NAM VIỆT IT