0913 840 746
Thứ sáu, ngày 19 tháng 10 năm 2018
TÌM KIẾM
TIN MỚI Y HỌC
80% BỆNH NHÂN UNG THƯ VN ĐẾN BỆNH VIỆN Ở GIAI ĐOẠN CUỐI
Mỗi năm VN có 200 ngàn bệnh nhân ung thư mới, 70 ngàn người bệnh ung thư tử vong. Trong đó, đến 80% bệnh nhân ung thư ở VN đến bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Việt Nam có 160.000 ca ung thư/năm: Vì sao ăn bẩn, độc
Mỗi năm Việt Nam có từ 130 nghìn đến 160 nghìn trường hợp mắc mới, trong đó có khoảng 85 nghìn đến 115 nghìn người tử vong do căn bệnh này.
Công bố danh sách “làng ung thư”
Theo dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số làng ung thư của VN, các nguồn nước ăn uống, sinh hoạt tại 37 làng ung thư đều ô nhiễm nặng.
Triclosan trong kem đánh răng Colgate: vạch trần hàm lượng nguy hiểm sức khỏe
Từ sau khi Triclosan được nhiều nghiên cứu khoa học công bố là làm tăng nguy cơ ung thư, nhiều hãng sản xuất hóa mỹ phẩm đã loại bỏ nó trong thành phần sản phẩm. Chất này bị cấm ở nhiều nước Âu Mỹ. Tại Việt Nam, Triclosan cũng không còn được sử dụng trong các sản phẩm kem đánh răng, trừ Colgate. Đáp lại mối lo ngại của người tiêu dùng, Bộ Y tế cho biết Triclosan được phép sử dụng nếu hàm lượng không vượt ngưỡng 0,3%.
Cung cấp thuốc kém chất lượng, công ty dược của Mỹ bị rút giấy phép
Ngoài việc bị rút giấy phép hoạt động, Công ty Ronbinson Pharma, Inc (Mỹ) phải nộp phạt 80 triệu đồng vì sản xuất thuốc kém chất lượng, trong đó có nhiều lô glucosamine
HOANG MANG VỚI VỎ THUỐC-GELATINE
Gelatin có trong mô liên kết, xương, da của động vật và là sản phẩm được sản xuất từ da heo, da bò. Từ da heo, bò, collagen được thủy phân hóa một phần để biến thành gelatin. Như vậy để bào chế thuốc là viên nang phải có vỏ nang được chế tạo từ nguyên liệu là gelatin. Và gelatin dùng trong ngành dược sản xuất thuốc phải là gelatin dược dụng.
Kem đánh răng nào ở VN có chất gây ung thư triclosan?
Khảo sát của Kiến Thức về các sản phẩm kem đánh răng hiện nay: đều ghi rõ thành phần, không ghi hàm lượng. Câu hỏi đặt ra: chất triclosan gây ung thư chiếm tỉ lệ bao nhiêu?
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

0913 840 746

GĐ : NGUYỄN CÔNG KHUÔNG

[email protected]

TƯ VẤN TRAO ĐỔI

Phuongtd Thao

TƯ VẤN - HỖ TRỢ
THỐNG KÊ TRUY CẬP
14332
Đang online: 1
Truy cập hôm nay: 9
Truy cập hôm qua: 36
Truy cập trung bình: 14
Tổng số truy cập: 14332
Your IP : 54.224.247.42
Y học Tuệ Tĩnh

TUỆ TĨNH, QUYỂN 6 - CÁC BỆNH 9 KHIẾU

QUYỂN VI. CÁC BỆNH CHÍN KHIẾU
I. BỆNH MẮT
Mắt của con người ví như mặt trăng của thiên nhiên, hợp chất của ngũ hành mà thành hình thể, hợp khí của âm dương mà thành tinh quang cho nên lúc thường thì rất sáng suốt, trái thường thì màng mộng kéo lên. Bệnh ở mắt có chia từng bộ phận khác nhau, như con ngươi thuộc thận, thận hư thì chảy nước mắt, khoé mắt thuộc can, can phong thì chảy nước mắt sống, tròng mắt thuộc phế, phế hàn thì tia máu che mất tròng, mí trên mí dưới thuộc tỳ, tỳ hàn thì có lông quặm, 4 khoé mắt thuộc tâm, tâm nhiệt thì con ngươi bé lại mộng thịt nổi lên.
Phàm nội thương thất tình hoặc ngoại cảm lục dâm đều có thể gây ra bệnh ở mắt, mặc dù bệnh nhiều chứng, phép chãư nhiều đường, nhưng tổng quát không ngoài chữ “nhiệt”. nay tuỳ chứng soạn những phương sau đây để thầy thuốc tuỳ nghi sử dụng.
1. Truyền trị chứng tâm can tích nhiệt làm cho mắt sưng đau đỏ, màng che lấp tròng, mắt có ghèn và quáng mắt.
Hạt ích mẫu, hạt mồng gà đuôi mang, quả quan âm, thảo quyết minh, hạt mã đề.. Các vị đều nhau tán nhỏ, sao tán nhỏ, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, liều dùng 30-40 viên, uống với nước chè sau bữa ăn.
Không có hạt mồng gà đuôi mang, quả quan âm, mà thêm Hoa cúc, quả dành dành sắc cho uống cũng được.
2. Kinh trị chứng đau mắt đỏ màng chói che khuất tròng.
Thạch xương bồ, giã sống vắt lấy nước cốt, đun nhỏ lửa cô thành cao, mỗi ngày thường nhỏ vào mắt là công hiệu.
3. Kinh trị chứng khí huyết đều hư, can hư mắt kéo màng, tròng trắng đều đỏ, tối đến đau nhói như gà mổ.
Ốc cứu khổng nung thành vôi, cỏ tháp bút sao khô, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đ/c, dùng 3lát gừng, 1 quả táo nấu làm thang uống với thuốc, rồi ăn luôn cả bã, ngày uống 2 lần rất hay.
 4. Kinh trị chứng kéo màng mắt mờ.
Nước mật heo, để trong lọ sành, nhỏ lửa cô đặc như bùn, viên bằng hạt gạo, mỗi lần dùng 1 hạt nhét vào trong mắt, hoặc mắt nóng sưng đỏ thì lấy 3 đồng tiền cổ, cùng cô với thuốc cho đặc, rồi bỏ tiền, dùng nước mật heo mà nhỏ vào mắt, rất hay.
5. Kinh trị chứng đau mắt có màng mộng và chứng thong manh không trong thấy gì:
Phân dơi đãi sạch, lấy nước lắng dưới, dồn vào gan heo nấu chín mà ăn, lại uống cả gan heo ấy rất hay.
Dạ minh sa đãi sạch, sao với gạo nếp cho vàng 1 lạng, trắc bá diệp 2 lạng, cùng tán nhỏ, hoà với mật nước bò làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 20 viên khi đi ngủ, sắc nước lá tre làm thang, uống lúc canh 5 với nước cơm, uống đến khỏi thì thôi.
6. Kinh trị chứng mắt tối mờ không trông thấy gì, chứng cahỷ nước mắt sống không ngừng và chứng thong mành, chứng mờ mắt, nhiều người cùng mắc.
Phúc bồn tử phơi khô, nghiền rất nhỏ, dùng lụa mỏng bọc lại tẩm vào sữa người sinh con trai trong 4 tiếng đồng hồ lcọ lấy nước sữa ấy mà tra vào mắt mỗi ngày 2 lần, chỉ độ 5 ngày mắt sẽ trông như người trẻ tuổi, kiêng rượu bún tàu và dầu mỡ.
7. Kinh tri chứng thong manh, bằng cách rửa, xưa có người đau mắt 20 năm dùng bài này 2 năm thì mắt sáng lại như cũ:
Lá dâu tươi hái đem về giã nát, phơi khô đốt tồn tính, nấu lấy nước mà erửa
Cành dâu đốt thành tro, mỗi lần dùng 1 vốc, nước  1 bát, sắc còn 6,7 phân đổ ra lắng trong, đang nóng rửa mắt, rửa được 100 lần là khỏi.
8. Kinh trị mắt mù 30 năm.
Hạt tật lê, nagỳ 7 tháng 7 AL thì hái phơi râm cho khô, tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c, ngày uống 2lần, uống sau bữa ăn dần dần sẽ khỏi.
9. Kinh trị chứng can hư mắt mờ:
Thỏ ty tử, 3 lạng, ngâm với rượu 3 ngày, phơi khô, tán nhỏ, hoà với lòng trắng trứng gà, làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30 viên với rượu nong, vào lúc đói.
Đom đóm 31 con, bỏ cánh, chân, dồn vào mật con cá gáy to phơi râm 100 ngày, cho khô, tán nhỏ, mỗi lần dùng chút ít, điểm vào mắt rất công hiệu.
10. Kinh trị mù mắt đã lâu ngày.
Thảo quyết minh 2 thăng, tán nhỏ mỗi lần ăn cơm xong dùng 2 đ/c hoà với cháo mà ăn,dần d62n sẽ kết  quả.
11. Kinh trị can hư mắt mờ hễ ra gió thì chảy nước mắt:
Đậu đen đãi sạch, dồn vào 1 cái mật bò đực (đã lấy sẵn từ tháng chạp) đem treo trước gió cho khô, mỗi lần uống 27 hạt, uống lâu thì lành.
12. Kinh trị chứng mắt mù quáng.
Quả ké đầu ngựa, 1 thăng phơi khô, tán nhỏ, thường nấu cháo với gạo mà ăn rất hay.
Kiêng thịt heo.
13. Kinh trị chứng thong manh, trông không thấy gì.
Mắt chuột cống 2 cái, mắt cá gáy 2 cái, tích lấy hào đều mà nhỏ vào mắt, lành thì thôi.
14. Kinh trị bỗng nhiên mắt không trông thấy.
lấy đồng tiền cổ, và đặt lên viên đá mài, cho vào nước, mài ra nước đặc đm nhỏ vào mắt là sáng.
15. Kinh trị sau khi sốt nóng dữ dội rồi ăn phải đồ cay nóng, mắt mờ tối.
Cá diếc, nấu canh cho nhiều mà ăn thường xuyên rất hay.
16. Kinh trị đau mắt mới khỏi mắt loà.
Mật dê, thường dùng nhỏ mắt sẽ khỏi.
17. kinh trị mắt nổi mộng thịt kéo căng màng trắng, đỏ:
Rau sam 1 nắm to, rửa sạch giã nát, cho trộn thêm Phác tiêu lấy lạu gói lại đắp lên mắt thì công hiệu.
18. kinh trị tròng mắt trắng có vành trong suốt.
Mật ong sống dùng chút ít nhỏ vào mắt nằm ngửa, nửa ngày mới rửa, mỗi ngày nhỏ 1 lần, 3 lần là lành.
Cỏ xước lá và rễ, giã nhỏ, ngày nhỏ vào mắt 3,4 lần
19. Kinh trị chứng thong manh, quáng gà:
Thảo quyết minh, 1 thăng, địa phu tử 5 lạng, tán nhỏ, nước cơm trộn làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 20-30 viên với nước cơm rất hay.
20. Kinh trị chứng quáng gà,  lúc nhá nhem tối không thấy gì:
Rêu đất lấy ngày 7/7 hay ngày 9/9 AL phơi khô tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đ/c với rượu, ngày uống 3 lần 1 tháng là lành.
hạt cải tía sao đen tán nhỏ, mỗi lần dùng 3 đồng, nghiền lẫn với 1/8 cái gan dê, lấy mo nang tre non ốp lại buộc kĩ đổ nước vào, luộc chín, ăn nguội, khi đói, uống luôn nước luộc ấy. mỗi tháng ăn vài cái gan dê là khỏi.
21. Kinh trị bệnh mới khỏi mắt sinh màng:
Bạch hoa cúc, thiền thoái cắt bỏ đầu chân, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ, mỗi lần dùng 2-3 đ/c uống với nước có trộn 1 ít mật ong.
Mai mực tán nhỏ, hoà với mật ong nhỏ vào mắt,
Đậu sị 14 hạt, đốt tồn tính, nghiền nhỏ mà uống thì tốt.
22. Kinh trị tròng mắt sinh quầng, không kể lâu hay mới mắc.
Mật cá gáy to, trích cho chảy mật trên cái mâm đồng, phơi râm cho khô, cho nó lên rỉ xanh dùng dao tre cạo lấy, nghiền nhỏ tra vào mắt là khỏi.
23. Kinh trị mắt sinh màng mộng
Lấy 1 hột củ cải, nhẹ tay để vào trong mắt, , 1 lát lấy nước giếng ban mai hoà với lòng trắng trứng gà mà rửa lại thì sáng.
24. Kinh trị mắt đỏ kéo màng.
Mật cá trắm, thường nhỏ vào mắt, rất hay.
25. Kinh trị trong mắt hơi có màng.
Lá mã đề, lá Câu kỹ, 2 vị đều nhau, vò nát gói 2 lớp lá dâu, treo chỗ kín 1 đêm vắt lấy nước cốt nhỏ vào mắt, chỉ làm 3-5 lần là khỏi.
26. Kinh trị can hư, mắt không trông xa được.
Gan lợn 1 cái bỏ màng da, thái mỏng, hành tăm 1 nắm, Đậu sị, 1 vốc đổ nước vào nấu canh, chờ chín thì đập cho vào 3 quả trứng gà ăn, ăn đến lành thì thôi.
27. Kinh trị chứng mắt toét
Bạc hà, tẩm nước gừng 1 đêm, phơi khô tán nhỏ, mỗi lần dùng  1 đ/c, nấu sôi lên rửa mặt.
Hạt hoè, dồn vào mật bò, phơi râm 100 ngày, mỗi lần dùng 1 hạt uống sau bữa ăn, uống được 10 ngày thời mắt sáng, người nhẹ nhàng.
28. Kinh trị mắt đỏ sưng toét
Rỉ đồng xanh, nghiền nhỏ đem trộn với nước đem phết trong lòng cái bát, lại dùng ngải cứu lâu năm đốt xông lên lòng cái bát ấy rồi cạo lấy khói, mỗi khi dùng 1 ít bôi vào chỗ loét, rất hay.
29. Kinh trị mắt đỏ sưng vù:
Rỉ đồng xanh, đất sét, phác tiêu, 3 vị đều nhau, tán nhỏ, luyện với nước làm viên, bằng hạt ngô đồng, liều dùng 1 viên, hoà tan nước mà rửa mặt.
30. Kinh trị mắt bị nhiệt độc, đỏ đau, hơi sưng.
Đậu đen 1 thăng, chia đựng vào 1 cái túi, nhúng vào nước sôi, thừa nóng chườm vào, nguội thay thứ khác, làm 2,3 ngày là lành
31. Kinh trị mắt sưng đỏ ngầu.
Gừng sống 1 củ, lấy 1 đồng tiền cổ nhét vào trong củ gừng rồi lấy ra chấm đồng tiền vào mắt cho chảy nước mắt, nay làm thì mai lành.
32. Truyền trị chứng đau mắt hoả, sưng đỏ, hoặc bị phạm phòng, mắt đau liên miên không khỏi.
Hạt dành dành, bất cứ nhiều ít, tẩm nước tiều trẻ em, hoặc tán bột, tẩm nước đái trẻ em, hoặc tán bột uống với nước sôi, rất công hiệu.
33. Kinh trị mắt bỗng nhiên sưng đỏ.
Xuyên sơn giáp 1 vảy, tán nhỏ, rải trên tờ giấy trắng, cuộn lại đốt lấy khói mà xông mắt, thì khỏi.
Sửa người nửa chung, đồng tiền cổ 100 đồng, cho vào trong cái đồ bằng đồng sạch, mài cho ra nước xanh, chưng cách thuỷ, súc 1 cái lọ sạch mà đựng, mỗi ngày tra vào mắt vài lần là công hiệu.
Lá mã đề giã lấy nước cốt, hoà với 1 ít bột phác tiêu lúc sắp đi ngủ bôi trên mí thử nghiêng mắt, sáng hôm sau rửa sạch, làm đến khi lành thì thôi.
Dưa bở đã già ngày 5/5 hái lấy 1 quả, khoét 1 lỗ nhỏ ở đầu, móc bỏ ruột nhét vị Mang tiêu vào cho đầy, treo chỗ im mát, chờ khi mang tiêu thấu ra ngoài vỏ thì cạo lấy cất đi, khi dùng thì hoà với 1 lít nước trà bôi hai bên huyệt thái dương, khô thì làm nãư 1 đêm sẽ khỏi.
Hoàng đằng 1 đồng cân cạo bỏ vỏ khô, phèn chua chút ít, Cùng tán nhỏ, nước sơi 1 bát, chưng cách thuỷ, chờ nguội, dùng tra vào mắt, rất hay.
Hạt muồng tán nhỏ hoà với nước chè, đổ 2 huyệt thái dương, khô lại đổ tiếp, 1 đêm sẽ khỏi.
Thạch liên nhục bỏ vỏ và tím vốc, tán nhỏ, nấu cháo với gạo tẻ thường ăn, rất hay.
Lá phù dung giã nát, dịt vào huyệt thái dương, gọi là cao thanh lương.
Nhân trần, hạt mã đề, 2 vị bằng nhau tán nhỏ uống với nước chè, hoặc sắc nước uống, vài lần là công hiệu.
Lá ngãi cứu, đốt lên khói, lấy bát sành úp lại, đốt cháy hết khói mang ra đổ nước nóng vào cho hoà tan mà rửa mắt là khỏi ngay, cho thêm Hoàng liên càng tốt.
Trùn đất 10 con, nướng khô tán nhỏ,lúc sắp đi ngủ uống với nước trà để nguội.
34. kinh trị chứng mí mắt sưng đau kịch liệt
Gừng già 1 củ, giã vắt lấy nước cốt, khô phân tán nhỏ, hoà dẻo như bùn đắtp vào mi mắt, 1 lúc là hết sưng,(chớ dính vào măt)
35. Kinh chảy nước mắt sống  luôn không ráo.
Mộc nhĩ 1 lạng, đốt tồn tính, mộc tắc 1 lạng, đều tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c với nước vo gạo đun sôi là lành.
36. Kinh trị chứng mắt mờ hay ra nước mắt.
Mộc tặc bỏ mắt, Thương truật tẩm với nước vo gạo,2 vị bằng nhau sao tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c với nước chè.
Phương trên luyện mật làm viên uống cũng hay.
37. Kinh trị chứng đau mắt gió hay chảy nước mắt.
Hái lá dâu thứ con trên cây lúc tháng chạp, hãm lấy nước mà rửa hàng ngày  hoặc thêm chút mang tiêu rất hay.
38. Kinh trị chứng mắt trít lại khó mở.
Hoa và hạt cây thanh hao hái vaà ngày thanh minh hoặc ngày đoan ngọ phơi râm tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c, uống với nước giếng vào lúc đói bụng, uống lâu ngày thì sáng mắt, đến tối cũng có thể thấy được.
39. Kinh trị chứng lông quặm cặp vào mắt, do phong nhập tỳ kính, mắt ngứa phải lấy tay dụi, lâu ngày mí mắt đỏ loét, lông quặm chcọ vào.
Nhân hạt gấc 1 cái, giã nát lấy túi lụa gói lại nhét vào lỗ mũi, đau bên này thì nhét bên kia, thì lông sẽ chìa ra, không quặm vào mắt nãư.
40. Kinh trị con bọ mạt vào mắt.
Thạch xương bồ giã nát, đau mắt trái thì nhét vào lỗ mũi bên phải,đau mắt phải thì nhét mũi bên trái.
41. Kinh trị bụi bặm, tạp vật vào mắt không ra được.
Phân tằm 10 viên, dúng vào nước mới múc mà nuốt vào lúc đói (chớ nhai)
Mỡ heo đổ nước vào lucộ, để cho mỡ nổi lên mặt nước, người bệnh nằm ngữa, đầu dốc xuống, lấy nước váng mỡ nhỏ vào mũi 3 lần thì bụi bặm và tạp vật sẽ ra.
Con Sùng đất giã nát, đắp lên ngoài mắt, bụi sẽ ra.
Vỏ rễ dâu giã nhỏ như tơ, lùa quýet vào ắt bụi sẽ ra.
Rau sam hái thứ mọc về phương đông, đốt cháy nghiền nhỏ, điểm chút ớt vào đầu khoé mắt, thì bụi ra liền.
42. Kinh trị bụi lau vào mắt.
Ngó sen tươi giã vắt lấy nước cốt nhỏ vào mắt.
43. Kinh trị tròng mắt bị vật cứng chọc vỡ và con ngươi bị thủng cũng chữa khỏi.
Hứng nước đái trâu, bò, mỗi ngày nhỏ 2,3 lần, tránh ra nắng và gió to.
44. Phương thuốc kinh nghiệm dùng rửa mắt thường xuyên:
Mang tiêu 6 đồng, nước 1 bát hoà tan, lắng lấy nước trong, dùng rửa mỗi buổi sáng, khi ngủ dậy.
45. Truyền trị đau mắt, chảy nước mắt, mắt khó mở.
Lá dành dành giã nhỏ, chế ít nước vào, lắng thật đặc, rồi hoà vào 1 chút phèn phi, dùng nhỏ mắt rất hay.
 
II - BỆNH TAI
Tai là cữa ngỏ của thận, quan hệ với thận mà thông đến não, 2 khí “khảm” và “ly” ý nói thận khí và tâm khí không giao thông với nhau, giao thông với nhau giữ chức trách “nghe” cho nên tai nghe rõ ràng là biểu hiệnt hận bình hoà. Tai ù tai điếc, tai sưng, đau là dấu hiệu thận bị bệnh, nên tuỳ chứng chọn phương mà chãư.
1. Kinh trị tai đau quá như có sâu bò, hoặc chảy máu mủ, hoặc khô ráo đau nhức.
Xác rắn đốt tán nhỏ, lấy lông ngỗng cắt làm ống, xúc thuốc thổi vào lỗ tai, hay lắm.
2. Kinh trị bỗng nhiên đau trong lỗ tai:
Nước mài dao dùng nhỏ vào lỗ tai chỉ 3,5 lần là lành.
Vỏ trứng gà bỏ vào nồi đổ ngấp nước là sen bịt lại cho kín, nấu sôi lấy ống trúc chọc thủng lá ssen dẫn hơi ống trúc lên, xông vào lỗ tai là lành.
Nghệ vàng, mài ra nước đặc, đổ 1 ít vào trong lỗ tai rồi nghiêng cho chảy ra là lành.
Dùng ống trúc đâm vào giãư cây chuối, rút lấy nước ấy nhỏ vào lỗ tai là yên.
Dùng máu lươn, nhỏ vào lỗ tai 3,4 giọt là lành.
3.Kinh trị tai đau chảy mủ:
Rễ cây liễu, giã nát, nhét vào lỗ tai, khô lại thay cái khác rất hay.
4. Kinh trị tai đau tai diếc.
Xuyên sơn giáp 2 cái, dế nhũi 2 con, đều sao vàng cháy, tán nhỏ, mỗi lần dùng 1,2 phân, thổi vào tai là lành.
5. Kinh trị tai bỗng nhiên đau nhức và chãư cả chứng ù tai do phong nhiệt.
Muối 1 thăng, rang nóng lấy vải gói lại mà gối, nguội lại thay cái khác, đến lành thì thôi.
6. Kinh trị bỗng nhiên tai sưng nóng:
Nhân hạt gấc 1 lạng, Đậu đỏ 5 đồng, đại hoàng 5 đồng, tán nhỏ, mỗi lần dùng chút ít trộn với dầu vừng mà rụt rất hay.
7. Kinh trị lỗ tai chảy máu:
Bồ hoàng, sao cháy đem tán nhỏ, rắc vào bông xơ cuộn lại nhét vào rất hay.
8. Kinh trị tai bỗng nhiên điếc và trị thận hư tai điếc
Đá nam châm nửa đồng cân, lấy miếng lạu gói lại, nhét vào trong lỗ tai bên không điếc, lại lấy mạt sắt gói lại nhét vào bên tai điếc tự nhiên tai sẽ thông suốt.
Đá nam châm 1 phần, xuyên sơn giáp đốt tồn tính 2 phần. Đều tán nhỏ dùng mảnh lạu gói lại nhét vào lỗ tai, miệng ngậm 1 khối sắt mới, nghe trong tai ầm ầm như tiếng mưa thì thông.
9. Kinh trị tai điếc sau cơn ốm mới khỏi.
Thạch xương bồ tươi, giã nát vắt lấy nước nhỏ vào lỗ tai là lành.
10. Kinh trị thận hư tai điếc đã 10 năm, uống thuốc này 2 lần là thông.,
Bò cạp thứ nhỏ 49 con, Gừng sống 49 lát, 2 vị bằng nhau sao khô tán nhỏ, chia làm 2 lần uống với rượu, đến lúc canh 2 lại uống lần nãư đến say mới thôi, sáng hôm sau trong tai hết nghe tiếng lùng bùng là kiến hiệu.
11. Kinh trị bỗng nhiên tai điếc.
Thạch xương bồ 1 tấc, ba đậu 1 hạt, bỏ lõi tán nhỏ, làm thành 7 viên, mỗi lần dùng 1 viên, bọc bông lại mà nhét trong lỗ tai, ngày thay 1 lần công hiệu.
Phương trên bỏ ba đậu hoặc hạt thầu dầu.
Xuyên tiêu, tùng chi, xương bồ, ba đậu, các vị đều nhau, tán nhỏ, dùng sáp ong nấu chảy ra nước, bỏ bột thuốc vào làm viên nhét vào lỗ tai, mỗi ngày thay 1 lần rất hay.
Giấy trứng tằm 1 tờ, cho 3 đồng cân xạ hương, cuộn thành cái mồi đốt lửa cho cắm vào trong ống tre, đút vào trong lỗ tai mà xông, 3 lần nghe được.
Nhựa thông bỏ vào nồi đất mà nấu đến khi nhỏ vào nước không tan, 3 lạng, hạt ba đậu 1 lạng, 2 vị giã nhỏ cùng làm viên bằng ngón tay, dùng mảnh vải thưa bọc lại mà nhét vào tai, ngày thay 2 lần, ít lâu sau sẽ thông.
Mỡ ngổng trắng 1 đồng, đá nam châm 3 phân, xạ hương chút ít, lấy bông xe lại thành thoi dài, nhét vào lỗ tai rồi dùng 1 ít sắt mới mà ngâm 4,5 lần là công hiệu.
Nước mật chuột, nhỏ vào lỗ tai, chỉ dùng hết 2,3 cái, đợi đến lúc như có tiếng sấm trong tai vang lên thì thông.
Hạt thầu dầu 100 hạt, đại táo 15 quả, 2 thứ giã nát hoà với sữa làm viên, mỗi lần lấy lụa gói 1 viên nhét vào lỗ tai, ngày thay 1 lần,  20 lần là lành.
Hạt cải tán nhỏ hoà với sữa làm viên lấy lạu gói lại nhét vào tai, ngày thay 1 lần công hiệu.
Dầu mè mỗi lần tra vào lỗ tai 4,5 lần, mỗi lần 1,2 giọt đợi cho trong tai hết tắc là lành.
Hương phụ tán nhỏ, hạt củ cải sao, sắc lên sáng và tối đều uống 2 đ/c, rất công hiệu, kiêng đồ sắt.
12. Kinh trị tai điếc tai ù:
Cây tổ rồng thái ra từng miếng nhỏ,sao nóng nhét vào tai là khỏi.
13. kinh trị tai nóng bừng bừng:
Thiên hoa phấn, vót nhọn bỏ vào mỡ heo, mùa đông đun sôi 3 dạo, nhét vào lỗ tai 3 ngày là khỏi.
14. Kinh trị thối tai chảy mũ.
Rết 1 con, phơi khô tán nhỏ, thổi vào tai là công hiệu.
Ích mẫu giã nát, vắt lấy nước cốt nhỏ vào lỗ tai là lành.
Hoa hồng tán nhỏ, lấy bông hoặc giấy thấm cho sạch mũ, thổi thuốc vào hoặc lấy phèn phi 5 phân. Hồng hoa 3 phân rưỡi, tán nhỏ thổi vào, càng hay.
Bọ ngựa cây dâu 1 cái (con) đốt tồn tính, xa hướng 1 phân, nghiền nhỏ thổi vào trong tai là yên.
Hương phụ tán nhỏ, lấy bông gói lại nhét vào tai là công hiệu.
Lá hẹ giã vắt lấy nước, ngày nhỏ vào tai 3,4 lần là khỏi.
Thanh bì đốt cháy tán nhỏ, lấy lụa gói lại nhét vào tai, ngày thay 1 lần rất công hiệu.
Đất lòng bếp tán nhỏ, dùng lụa gói lại, nhét vào tai, ngày thay 3 lần rất công hiệu.
Thanh hao tán nhỏ, dùng lụa gói lại, nhét vào tai là khô ngay.
Đào nhân sao vàng tán nhỏ, dùng lụa goí lại nhét vào tai, ngày thay 1 lần là khỏi.
Hạt cau khô, tán nhỏ, dùng thổi vào tai là khỏi.
15. Kinh trị chứng nhọt mọc trong tai:
Chất trắng trong cứt gà, sao vàng tán nhỏ rắc vào tai thì khỏi.
16. Kinh trị trẻ em bị cào cao ăn tai:
Trùn đất, đốt tồn tính tán nhỏ trộn với mỡ heo mà bôi, rất hay.
Cứt trùn, cách làm như trên.
Trứng gà 3,4 quả luộc chín lấy lòng đỏ rán ra dầu mà bôi rất hay.
17. Kinh trị mùa rét cóng nứt tai:
Gừng sống, dùng nhiều giã vắt lấy nước cốt cô lại thành cao mà bôi, rất hay.
18. Truyền trị tai đau như dùi đâm
Lá bạch đàn sống thấm nước giã nát đem dán giữa rốn thì khỏi. Khi bụng dưới nghe sôi thì phải lấy thuốc ra ngay, chớ để lâu mà sinh lở rốn.
 
III- BỆNH MŨI.
Mũi là cửa ngõ của phổi, bình thường thì ngử được mùi thơm, thối, thở ra hít vào được thông sướng, nếu trái thường trong bị thất tình làm thương tổn, ngoài bị khí lục dâm xâm.
1. Kinh trị trong lỗ mũi sinh cục thịt thừa.
Cuống dưa đá, tán nhỏ, thổi vào lỗ mũi ngày 3 lần, thì khỏi.
Lá lốt tán nhỏ, mỗi lần dùng chút ít, thổi vào trong lỗ mũi.
Thạch xương bồ, tạo giác, đều nhau, tán nhỏ, lấy lạu gói lại nhét trong lỗ mũi, nằm ngữa giây lát là khỏi.
Lông đuôi trâu trắng, lá chanh, 2 vị đều nhau, đốt tồn tính, tán nhỏ thổi vào trong lỗ mũi, nếu như có ra máu thì thêm sơn chí tử cùng nghiền mà thổi vào,
Nam tinh thái mỏng, ngâm nước sôi 2,3 lần sao khô, 2 đ/c, đại táo 7 quả, cam thảo 5 phần, sắc cho uống 4,5 lần thì vật trong mũi tự rơi ra não khí được chuyễn động , nước mũi tự rút hết, lại dùng tỏi va lá ltố giã nát, nặn thành bánh, vải thô gói lại, đặt trên mỏ ác, ngoài dùng cái âu đồng trong có đựng than nóng chườm lên miếng thuốc, sẽ khỏi tuyệt nọc.
2. Truyền trị chứng cam mũi ra nước hôi thối không lúc nào dứt.
Hạt nhãn đốt lên khói, dùng cái ống trúc dẫn cho khói vào mũi mà xông, rất hay,
Ké đầu ngựa, sao tánnhỏ, liều dùng 1,2 đ/c uống với nước nóng hay lắm, Kiêng ăn thịt heo.
3. Kinh trị người già và người trẻ bị chứng não lậu, chảy nước luôn, không khô.
Tỏi 4,5 cũ, giã nát, như bùn, rịt vào lòng bàn chân, băng chặt nước mụi tự nhiên ráo.
4. Kinh trị cam mũi, mũi lở loét dần dần lan cả môi mép.
Mạt bạc 1 lạng, nước 3 bát sắc còn 1 bát, ngày rửa 3 lần là khỏi.
Rỉ đồng, phèn phi, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ, bôi vào, hay lắm.
Gạc hươu 2 phần, phèn phi 2 phần. Tóc rối 1 phần đốt trên đèn cho cháy thành tro, các vị đều nhau tán nhỏ, trước dùng hoa tiêu nấu nước rữa chổ loét cho sạch rồi rắc thuốc bột vào, ngày làm 3 lần thì khỏi. Hoặc vết loét không thu miệng không khô được thì dùng  rêu ngói, đốt tồn tính, tán nhỏ, rắc vào là thu miệng ngay, rất hay.
Dây mướp (lấy đoạn gần gôc) 3,5 thước, đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng với rượu ấm.
5. Kinh trị ngoài mũi nổi mụn nhọt, chảy máu mũ.
Tổ ong tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đ/c với rượu, ngày uống 3 lần, hay lắm.
6. Kinh trị mũi tắc hoặc chảy nước hôi thối.
Muội nồi tán nhỏ, mỗi lần uống 1đ/c với nước múc là khỏi.
7. kinh trị mũi tắc không thông vì phế khi xông lên mà sinh ra.
Quả màng tang, 5 đ/c, lá bạc hà 3 đ/c, hoa kinh giới 1 đồng rưỡi, đều tán nhỏ, thắng mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 1 viên, ngậm nuốt thì tự lành.
Lá hoè 1 nắm, nước 1 bát, sắc còn nửa phần, rồi bỏ thêm 3 củ hành, 1 vốc đậu sị, lại đun sôi uống nóng sau bữa ăn, đến bệnh lành thì thôi.
Quả bồ kết, nướng tán nhỏ, thổi vào lỗ mũi để gây nhảy mũi là lành.
Phương trên gia thêm Xương bồ phân lạng ngang với bồ kết, kinh giới bằng 1 nửa tán nhỏ, lấy vải gói lại, nhét lỗ mũi,nằm ngữa giấy lát sẽ kiến hiệu.
Hạt thầu dầu 200,300 hạt. Đại táo 10 quả, đều giã nát, lấy lạu bọc lại nhét lỗ mũi, mỗi ngày thay 1 lần không quá 1 thăng thì biết được mùi thơm thối.
8. Kinh trị mũi nghẹt không thông, và mọc thịt thừa.
Can khương tán nhỏ, thắng mật làm viên, nhét vào lỗ mũi, ngày thay 1 lần kiến kiệu.
9. Kinh trị chứng phong đỏ mũi.
Lưu hoàng phèn chua, đều nhau tán nhỏ, dùng quả cà giã nát, vắt lấy nước hoà với thuốc bột mà đắp vào mũi thì lành.
Y phương trên nhưng không dùng lưu hoàng.
 
IV - BỆNH MIỆNG, LƯỠI.
 Miệng lưỡi mà sinh bệnh là: Hoặc lưỡi sưng thành hai (trùng thiệt), hoặc lưỡi cứng (mộc thiệt), hoặc lưỡi sinh mụn lở loét, hoặc thè lưỡi ra không thu vào được, hoặc lưỡi co rút không nói được. Sách nội kinh nói: can nhiệt thì cay miệng, thận nhiệt thì miệng mặn. Nhưng nói tóm lại miệng lưỡi lở loét là do bệnh nhiệt, lưỡi sưng thành 2, lưỡi cứng tỳ khí trệ và kiêm phong nhiệt mà sinh ra bệnh, lưỡi thè ra là khí dương quá mạnh, lưỡu rút lại là khí âm quá mạnh, người chữa bệnh càng phải hiểu thật rành mạch.
1. Kinh trị miệng lưỡi lở loét.
Ngưu tất tẩm rượu, ngậm nuốt nước cũng được, hoặc sắc lấy mà uống
Lá chàm giã sống, vắt lấy nước mà rửa, hoặc bôi vào chỗ đau, ngày làm nhiều lần, 3 ngày là khỏi.
Củ cải tươi giã vắt lấy nước cốt, mỗi ngày thường ngậm súc miệng nhổ đi là lành.
TỐc rối tổ ong, xác rắn, đều bằng nhau đốt tồn tính, mỗi ngày uống 1 đ/c với rượu, uống 3 lần là khỏi.
Quả bồ hòn dùng cả nhânvới hạt đốt tán nhỏ, mà rắc vào hay lắm.
Đậu sị, sao cháy, tán nhỏ mà ngậm, chỉ 1 đêm là lành.
Rễ tầm xuân rửa sạch, sắc lấy nước đặc, ngậm lúc nước còn ấm, rồi xúc miệng mà nhổ đi, mùa đông thì dùng vỏ, rễ, mùa hè thì dùng cành lá, chứng miệng lở lâu ngày, nhiều nước dãi chảy xuống ngực sinh lở mà 3 năm trở lên chưa khỏi, đều lành cả.
2. Kinh trị miệng mũi cam ăn lở thối, dần dần lở thủng môi mép.
Mạt bạc 1 lạng, nước 3 thăng, cho vào nồi đồng, sắc lấy  1 thăng, ngày rửa 3-4 lần là khỏi.
3. Kinh trị lở miệng vì uống rượu.
Ốc bươu, nấu lấy nước mà uống thì tự lành.
4. Kinh trị chứng thối mồm.
Hương nhu 1 nắm, sắc lấy nước đặc mà ngậm.
Hoắc hương rửa sạch, nấu lấy nước thường ngậm và súc miệng, rất công hiệu.
Nhục quế, hương phụ, ô mai, trần bì, đều bằng nhau, tán nhỏ, dùng nước gừng và mật làm viên bằng đầu ngón tay, mỗi lần dùng 1 viên, ngậm cho tan dần.
Quả mơ khô, thường ngậm rất hay.
Hạt dưa đá, hoặc dưa hấu bỏ vỏ thái mỏng, phơi khô tán nhỏ, viên với mật ong bằng đầu ngón tay, mỗi sáng súc miệng xong thì ngậm 1 viên, hoặc súc miệng rồi xát thuốc vào răng càng hay.
5. Kinh trị lưỡi rụt, cấm khẩu.
Lá ngãi cứu tươi, giã nát mà đắp vào, hoặc lá ngải cứu khô tẩm nước cho ướt mà đắp vào cũng hay.
6. Kinh trị trên lưỡi bỗng nhiên máu phun ra như sợi chỉ.
Tóc rối 2 đ/c, tán nhỏ, hoà với nước giấm mà uống, và bôi vào, máu cầm ngay.
Đậu đỏ 1 thăng, giã nát hoà vào 3 thăng nước, vắt lấy nước trong, chia ra mà uống là khỏi.
Hạt thầu dầu, gói giấy khẽ đập cho dầu thấm ra ở cuộn giấy ấy đốt mà xông rất mau khỏi.
Hoa hoè, sao tán nhỏ rắc lên là khỏi.
Hương nhu sắc nước uống 1 thăng, ngày uống 3 lần là khỏi.
Bồ hoàng sao, thanh đại, Hoà bột thanh đại vào nước sắc Bồ hoàng mà uống và bôi, hoặc giã mai mực càng hay.
Ba đậu gói vài lớp giấy, khẽ đập cho dầu thấm ra ở cuộn giấy ấy đốt mà xông rất mau khỏi.
Đậu sị 1 vốc, sắc sôi lên mà uống, ngày làm 3 lần là khỏi.
7. Kinh trị lưỡi cứng chảy máu.
Mộc tặc sắc lấy nước đặc ngâm và súc miệng thì yên.
Mai mực bỏ rìa cứng xung quanh, Bồ hoàng sao, đều bằng nhau, tán nhỏ, rắc vào sẽ cầm máu, tiêu sưng hay lắm.
8. Kinh trị lưỡi sưng cứng đầy miệng, chậm chãư thì chết.
Nhọ nghẹ nồi đồng, muối ăn, 2 thứ đều nhau hoà với nước giếng mà bôi.hoặc với rượu mà bôi thì công hiệu.
Bồ hoàng tán nhỏ mà xức, từ tối đến sáng là khỏi.
Phương trên thêm can khương, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ mà bôi.
Trùn khoang cổ 1 con to, cho vào chút muối  trùn sẽ hoà ra nước, lấy nước đó mà xức lâu sẽ tiêu dần.
Muội nồi, bồ hóng, củ rẻ quạt, đều bằng nhau, tán nhỏ, hoà với giấm mà bôi, là lành.
9. Kinh trị lưỡi thè ra ngoài miệng
Hạt thầu dầu, gói giấy khẽ đập cho dầu thấm ra ở cuộn giấy ấy đốt mà xông cho khói vào miệng, rất mau khỏi.
Mồng gà trống cắt lấy máu 1 chén mà bôi, lưỡi sẽ thụt vào như cũ.
10. Kinh trị lưỡi bỗng nhiên sưng to.
Giấm trộn với nhọ nồi, bôi lên lưỡi, tróc đi lại bôi, 1 chốc sẽ hết sưng.
11, Kinh trị lưỡi sưng thành hai (trùng nhiệt) và chứng tưa lưỡi (đẹn)
Đậu đỏ, tán nhỏ, hoà với giấm mà bôi vào là công hiệu.
12. kinh trị lưỡi sưng thành 2 và đau:
Tổ ong tàng, nướng tán nhỏ, trộn với rượu như bùn mà xức ngày  3lần thì khỏi.
Cua sống 1 con, nướng khô tán nhỏ, xức vào chổ đau.
13, Kinh trị lưỡi sưng (trùng nhiệt) và đau họng.
Bồ kết 5 quả, bỏ hết vỏ đen và hẹt sao khô, kinh giới tuệ 2 đồng đều tán nhỏ,hoà với giấm mà bôi là lành.
Phương trên thêm ít xác rắn càng hay.
14. Kinh trị lưỡi sưng thành hai và lở loét.
Bồ hoàng đốt tồn tính tán nhỏ, rắc vào chỉ 3 lần là khỏi.
15. Truyền trị miệng lưỡi lổ loét, đau nhức, lâu ngày không lành, lở lan dần sang lỗ mũi.
Trân châu mài với nước cho đặc, lấy lông chim chấm vào thuốc và phết vào, lại dùng rễ cà gai, rễ cây vuốt hùm, cạo vỏ đều bằng hạt táo,đổ giấm vào ngâm hồi lâu, rồi đaư bao thuốc mà ngậm, ngày 5,6 lần, lại dùng 1 nắm rễ cà gai khác treo trên giàn bếp khỏi.
 
V - BỆNH MÔI
Môi có chia ra trên dưới trong ngoài,môi sinh ra nứt nẻ nhăn nheo hoặc lở sưng như kén tằm, nặng lắm thì môi trề ra như cánh hoa lật lược, 1 là biểu hiện bên ngoài của tỳ, tỳ táo thì môi khô, tỳ nhiệt thì môi nứt nẻ, tỳ phong thì môi ướut nhậun, tỳ hàn thì môi nhợt nhạt, đó là bệnh do tỳ mà ra cả.
Cho nên phép chữa phải bổ tỳ khí, dương tỳ huyết thì bệnh tự nhiên lành.
1. Kinh trị môi miệng chúm lại không há ra được, hoặc lở đau không ăn uống được.
Vải xanh củ, đốt thành tro trộn mở heo mà bôi.
Xác rắn đốt thành tro rắc vào.
Tóc rối, tổ ong, lông gia súc, cùng đốt ra tro tán nhỏ trộn mỡ heo mà bôi, rất tốt.
Quả tràm đốt thành tro tán nhỏ trộn mỡ heo mà bôi, khỏi ngay.
Rau sa, sắc đặc dùng nước rửa luôn bôi vào, khỏi ngay.
2. Kinh trị chứng rìa môi mọc mụn lở, lâu năm không thôi.
Lá chàm, hái về tháng 8 ÂL 1 cân, giã vắt lấy nước cốt mà rửa là khỏi.
3. Kinh trị môi lở, nứt đau:
Đào nhân giã nát, trộn mỡ heo mà bôi, hay không thể tả.
Thanh bì, đốt tán nhỏ, hoà mỡ heo mà bôi.
4. Kinh trị chứng lở môi.
Lấy mồ hôi trên nắp vung nồi mà bôi, rất hay.
5. Kinh trị môi bỗng dưng bị sưng đen, đau ngứa khó chịu.
Đồng tiền cổ 4 đồng, nhỏ nước mở heo trên hòn đá mài ra nước như hun, quyệt nước ấy bôi vài lần sẽ khỏi.
 
VI – BỆNH RĂNG
 
Răng là chất thừa của xương, là dấu hiệu bên ngoài cảu thận, Răng thuộc thận thuỷ, lợi thuộc vị thổ, hễ thận thuỷ khoẻ mạnh, vị thổ bình hoà, thời răng sẽ chắc vững vàng. thận hư vị nhiệt thời răng lung lay nhức nhối, nặng thì chảy máu sinh mũ. Đại để răng ví như cây, lợi ví như đất, đất dày thì gốc rễ bền chặt, đất nóng thì gốc cây héo hư, Răng là xương, xương thì không thể đau, chỉ lợi mới đau mà thôi.
Cho nên chữa răng trước phải chữa vào căn bản của nó, chớ nên thiên về mặt chỉ thống mà dùng táo nhiệt, vì đau đã không đỡ mà nhiệt lại tích vào, đó là cái hậu quả “lùa hổ về để trừ tà” há không nên cẩn thận hay sao. Nay giới thiệu từng phương ra sau để tuỳ chứng mà chọn dùng.
1. Kinh trị các chứng đau răng, hoặc răng đụng đến là chảy máu:
Củ cỏ cú, lá ngãi cứu, sắc lấy nước mà súc miệng, lại dùng củ cỏ cú tán nhỏ xát vào cho ra nước dãi nhổ đi, cũng hay.
2. Kinh trị các chứng đau răng:
Mộc nhĩ, kinh giới đều nhau, sắc lấy nước  thường súc miệng rất hay.
3. Kinh trị răng đau vì phong, dùng nhiuề thứ thuốc mà không kiến hiệu.
Mướp tươi 1 quả, xát vào muối đốt tồn tính tán nhỏ thường xát vào răng hết nước giải thì khỏi, nếu xát vào mà sưng như như sưng góc hàm thì đổ nườc vào thuốc tán đó, sắc lên mà ngậm (duy răng sâu thì không công hiệu)
4. Phương thuốc xát răng để ngừa đau răng có kinh nghiệm.
- Cành đào non, nửa cân, giã nát, nước 4 bát sắc còn 1 nửa, bỏ bã, cho vào 1 thăng muối, nấu đến khô rồi nghiền nhỏ để xát răng, mỗi lần xát răng thì xúc miệng bằng nước nóng, rồi nhổ ra rửa mặt thì mắt sáng, răng bền.
5. Kinh trị khí hư xông lên khiến răng đau nhức ra máu hoặc ngứa, lung lay muốn rụng.
Cây tổ rồng 1 lạng, dùng dao bằng đồng thái nhỏ, để lên trên miếng ngói sấy khô, tán nhỏ xát vào.
Phương này không những chãư được r8ang đau mà còn tác dụng làm bền xương thêm tinh tuỷ, lại trừ được khí độc trong xương.
6. Kinh trị đau răng.
Hạt cải củ 14 hạt, nghiền sống hoà với sữa người, mà nhỏ vào lỗ mũi, hễ đau răng bên trái thì nhỏ vào mũi bên phải, răng đau bên phải thì nhỏ lỗ mũi bên trái là lành.
7. Phương thuốc trị đau răng nhét vào lỗ tai có kinh nghiệm.
Lá rau má giã nát như bùn đem bôi vào lỗ tai, hễ đau răng bên trái thì tô bên phải, đau bên phải thì bôi vào tai bên trái rất hay.
8. Kinh trị răng đau có sâu vì phong:
Đào nhân, xâu vào cái dùi, kê trên ngọn đèn đốt cho cháy rồi thổi tắt lửa, áp vào chỗ răng đau, bất quá 5-6 lần là khỏi.
Quả vải để cả vỏ, đốt tồn tính tán nhỏ, xát vào là khỏi ngay thật là hay.
Quả vải, bổ đôi nhét muối vào giữa mà đốt, tán nhỏ xát vào là lành ngay.
Quả trám đốt ra tán nhỏ, hoà với chút ít Xạ hương mà bôi là khỏi.
Cắt lấy 1 cành cây nhỏ cây Trắc bá, hơ lửa cho nóng đem dí vào chỗ đau, cũng hay.
Nhựa thông lấy nhựa còn dính trên cây, hoà vào 1 ít nước sôi cho tan ra, thừa lúc nóng súc miệng là yên.
Lá thông 1 nắm, muối 1 vốc rượu 2 thăng, sắc lấy 1 nảư, ngâm súc miệng là lành.
Tổ ong tàng(Lộ phong phòng) 1 miếng, dồn muối vào trong các lỗ, đốt tán nhỏ xắt vào, rồi lấy muối ra nấu nước súc miệng rất hay.
Phương trên thêm xuyên tiêu trọng lượng bằng tàng ong, tán nhỏ mỗi lần uống 2,3 đ/c, thang với nước giếng sắc với hành tăm.
Cành hoè hơ nóng đem dí vào chỗ đau, nguội lại thay.
Vỏ trắng cây hoè, thái nhỏ lấy 1 nắm, sắc với nước và giấm, lọc bỏ bả cho vào tý muối ngậm súc miệng rất hay.
Cỏ nụ áo dùng cả hoa lá, cho vào ít muối, giã nhỏ, đem đặt vào chỗ đau rồi dùng lá quýt hôi hoặc lá thông sắc nước ngậm súc rất hay.
Bồ kết 1 quả, bỏ hạt dồn vào đầy muối và phèn chua, đất sét bọc ngoài, đốt tán nhỏ mỗi ngày dùng xát vào răng rất hay.
Cành liễu 1 nắm cắt nhỏ, thêm chút muối sắc ra nước đậm mà ngậm súc miệng rất hay.
Quả cà giã dùng cà cuống, đốt ra tro mà xát, hoặc dùng rễ cà giã nát hoà nước, lắng lấy nước trong mà ngậm là khỏi.
Cây chuối non vắt lấy nước cốt 1 bát mà ngậm là yên.
Trần bì, vôi đá tán nhỏ hoà với mật ong làm thành 1 cục, nhồi muối với bùn bọc ngoài nung lửa 1 ngày, nghiền nhỏ, xát vào, thật là phương thuốc rất hay.
Sáp ong 1 ít, để trên lửa cho chảy tan thấm vào giấy, rắc ngải nhung lên, cuộn lại thành cái mồi, đốt cháy rồi tắt, xông khói vào 2 lỗ mũi, hít khói vào đầy miệng rồi hà mạnh hơi ra là hết sưng.
Quả giun (sứ quân tử) nấu nước ngậm súc miệng rất hay.
TỎi 1 củ, nướng chín xát lát áp vào chỗ đau, thay đổi luôn rất hay.
9.Kinh trị răng lung lay.
Chì 5 lạng, dùng cái nồi gang nấu cho chảy ra, bồ kết 2 lạng, cắt nhỏ cho vào dùng cành dâu cành liễu mà quấy cho bồ kết cháy ra tro, lại cho vào ít muối tán nhỏ, Hàng ngày dùng xát vào răng thì răng sẽ bền chặt.
10. Kinh trị răng hễ rụng, chạm đến là đau:
Tật lê (hạt hoặc rễ), tán nhỏ ngày ngày xát vào, thì răng sẽ bền chắc.
11. Kinh trị răng lung lay, hoặc bị vật gì chạm muốn rụng, các thuốc đều chãư không khỏi.
Trùn khoang cổ, Ngũ bội tử, 2 thứ bằng nhau, sao khô tán nhỏ, trước lấy gừng giã nát xát vào răng, sau mới xức thuốc tán vào, đừng để cho răng ngớt thuốc thì răng lại bền chắc như cũ.
12. Kinh trị răng sưng đau:
Quả ké đầu ngựa 5 vốc, nước  1bát, bỏ vào ít muối, sắc lấy 1 nửa, thuốc đang nóng thì ngậm vào miệng, thuốc nguội thì nhổ ra lại ngậm thứ nóng khác vào, chỉ dùng 1 tháng là khỏi.
Thanh cao 1 nắm, sắc đặc dùng súc miệng rất công hiệu.
Rau sam giã lấy nước mà ngậm trong 1 ngày thì hết sưng và khỏi.
Rễ cỏ xước sắc lấy nước ngậm và súc miệng, hoặc đốt ra tro, tán nhỏ xắt vào là lành ngay.
Nhân hạt gấc mài với nước giấm thanh hay lắm.
Mè đen 1 thăng, nước  1 thăng, sắc còn nửa ngậm súc rồi nhở đi, chỉ 2 thang là lành.
13. Kinh trị đau răng vì phong.
Rễ cây ý dĩ 4 lạng, sắc đặc ngậm lúc nóng, nguội lại thay là khỏi.
Đậu đen nấu với rượu ngậm súc luôn là khỏi.
14. Kinh trị nướu sưng lên vì nhiệt độc.
Rêu mái ngói hoặc rêu tường sắc đặc cho vào tý muối mà ngậm hay lắm.
Dây mướp phơi râm, khi dùng dốt tồn tính tán nhỏ, xát vào là lành.
Cứt trùn nhồi với nước làm viên, rồi nung đỏ, tán nhỏvới mỡ heo mùa đông mà bôi, 3 lần công hiệu.
15. Kinh trị răng sâu trồi lên ra máu mủ:
Mật trăn 3 đ/c, phèn phi 1 đồng, hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn 47 hạt, đều tán nhỏ, trước lấy muối xát răng cho hết máu mủ, rồi lấy thuốc xát vào ngày 3 lần là lành.
Quả khế giã nhỏ vắt lấy nước cốt 1 bát, lấy thanh sắt nung đỏ tôi vào khế, dùng nước ấy mà ngậm, 2,3 ngày làm 1 lần như thể, 1 tháng răng sẽ bền chặt.
16. Kinh trị cam răng thối miệng.
Ngũ bội tử 1 lạng sao cháy, Phèn chua, rỉ đồng đều 1 đ/c tán nhỏ, trước súc miệng bằng nước vo gạo cho sạch rồi xát thuốc bôi vào rất hay,.
17. Kinh trị chứng chảy máu chân răng:
Tóc rối 1 nắm sao cháy tán nhỏ, xức vào thì khỏi.
Nước đái trẻ em dưới 3,4 tuổi ngậm, sau nhổ đi.
Tinh tre 1 nắm, nấu với giấm thanh hoặc nước tiểu trẻ con mà ngậm, liền hết máu mà khỏi.
18. Thuốc dùng để nhổ răng đau, đã kinh nghiệm.
Quả cà già tẩm nước đái ngựa 3 ngày, phơi khô tán nhỏ, mỗi khi dùng thì xức thuốc vào chỗ răng đau là rụng ngay, thật là phương thuốc thần.
 
 
VII – ĐAU HỌNG
Họng là đường ra vào của hơi thở, cửa đi xuống của đồ ăn. Nó làm then máy cho toàn thân, làm cữa ngõ cho vào các tạng,nên nó bị bế tắc thì sống chết chỉ trong nháy mắt. Cho nên nội kinh chia làm 8 chứng nhưng căn bản đều do đờm hoả sinh ra. Hễ khí nhiệt thì đờm kết, đờm kết lắm thì sưng, sưng lắm thì đau tê, đau tê lắm không thông được thì chết. Phép chữa bệnh nên dò xét tận gốc mà kịp lựa phương, chớ nên chậm trể.
1. Kinh trị chứng đau họng gần chết.
Hàn the 1 cục to bằng hạt đậu đen, ngậm vào 1 giờ thì khỏi, nếu không có hàn the thì dùng Phác tiêu cũng được.
2. Kinh trị đau họng sắp chết, chỉ còn có chút hơi thở.
Ba đậu 1 hạt, bỏ vỏ, dùng sợi chỉ xâu vàogiãư hạt nhét vào trong cổ họng 1 chốc rồi nắm dây kéo ra là khỏi.
Ba đậu gói 2,3 lớp giấy, khẽ đập cho dầu thấm ra giấy, cuộn giấy lại làm mồi đốt cháy rồi thổi tắt đi, cho khói xông vào trong lỗ mũi, 1 lúc thổ ra nước dãi là khỏi.
3. Kinh trị tắc cổ họng hơi thở không thông, chết trong chốc lát.
Tỏi 2 củ cắt bỏ 2 đầu nhét vào trong lỗ mũi, bệnh ở bên trái thì nhét vào bên phải, bệnh bên phải thì nhét vào bên trái. Máu đặc trong họng ra được là công hiệu.
4. Kinh trị tắc cổ họng, thở không được, uống nước khó vào.
Củ rễ quạt 1 miếng ngậm và nuốt nước xuống rất hay.
Hoặc gia thêm chút gừng cũng hay.
5. Kinh trị cổ họng tự nhiên bị tắc, không thể đổ thuốc vào được.
Vỏ cây mận, lấy vỏ gần gốc, mài với nước phết ngoài cổ, nhưng trước phải lấy bồ kết tán nhỏ, thổi vào lỗ mũi cho chảy mũi rồi sau phết thuốc rất hay.
Vỏ cây Đào 1 nắm , sắc nước đặc cho uống dần xuống sẽ khỏi.
6. Kinh trị cổ họng tắc nghẽn không thông:
Hoa hồng giã nát vắt lấy nước cốt 1 thăng, nấu lên cho uống rất hay. Hoặc sắc cả hoa rồi bỏ bả uống nước.
7. Kinh trị cổ họng đau tắc, hàm răng cắn chặt.
Hạt thầu dầu giã nát, cuốn giấy đốt khói mà hít vào, là thông ngay.
8. Kinh trị chứng đau họng muốn chết không thể dùng thuốc và châm cứu được.
Sơn khô đốt lên cho khói, lấy ống trúc dẫn khói vào họng, khỏi ngay.
9. Kinh trị chứng phong quai nón, sưng to quanh cổ không thở được.
Xác rắn cho vào ống tre đốt cho ra khói thổi vào cổ họng, là thông ngay.
10. Kinh trị cổ họng bị tắc do phong, khó chãư.
Bồ kết 1 quả sắc nước và mật cho uống ngay nếu cần kíp, còn như bệnh hoãn thì phơi sương 1 đêm rồi cho uống càng tốt, nếu cấm khẩu thì dùng đãu bếp cạy răng đổ thuốc vào yên liền.
Bồ kết 1 phần, tẩm mật với rượu nướng vàng củ rẻ quạt 3 phần, Nghệ nửa phần, đều tán nhỏ trộn với rượu cho đặc như bùn, lấy lông gà chấm phết vào trong và ngoài cổ là công hiệu ngay.
11. Kinh trị chứng đau họng, sưng tắc
Bán hạ sống tán nhỏ thổi vào mũi cho ra nước dãi là lành.
12. Kinh trị chứng đau họng, nghẹt họng nguy cấp.
Cỏ tháp bút, cứt bò khô đốt tồn tính tán nhỏ, lấy  1đ/c hoà với nước cho uống máu ra là yên.
Cỏ bấc 1 nắm, lấy 2 miếng ngói kẹp bấc vào giữa, đốt tồn tính, lại lấy 1 thìa nhỏ muối cùng sao tán nhỏ, thổi vào trong họng 1 vài lần là yên.
Cỏ bấc, Hồng hoa, đều bằng nhau, đốt tồn tính, hoà với nước 1 đ/c mà uống là tiêu.
13. Kinh trị chứng hầu phong, hầu tê (đau họng)
Bạch cương tằm 6 đồng, phèn chua 3 đồng, phèn phi khô 3 đồng, cùng tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c, uống với nước gừng để gây nôn, trẻ em thì gia bạc hà vào nước gừng, mửa được đờm được ra thì công hiệu ngay.
Bạch cương tằm sao tán nhỏ, dùng quả mơ muối giã lần viên bằng đầu ngón tay, bọc lụa lại mà ngâm, nuốt nước xuống dần dần thì công hiệu.
Nam tinh 1 củ, móc ruột nhét cương tằm sao 7 phân vào, gói giấy ướt nhiều lớp nướng chín nghiền nhỏ dùng 1 đ/c hoà với nước gừng cho uống, mửa được nước dãi là lành.
14. Kinh trị chứng đau họng không nói được.
Đậu đen nấu nước đặc ngậm nuốt xuống là lành.
15. Kinh trị bị khí độc sinh đau họng.
Gừng sống 1 thăng, giã vắt lấy nước cốt, cho vào 2 chung rưỡi mật, sắc sôi, mỗi lần uống nửa chung, nagỳ uống 4 lần thì hay.
16. Kinh trị phong táo sinh đau họng, sưng lan ra cả má, thường nhổ ra máu.
Cỏ roi ngựa, 1 nắm, cắt bỏ 2 đầu giã nát, đổ vào 1 chén nước vắt lấy nước cốt mà uống là tốt.
17. Kinh trị cổ họng sưng đau, nước và cháo không nuốt được, sống chết trong giây lát.
Chân thiềm tô (bột mũ cóc) tán nhỏ bôi vào đầu ngón tay, thọc ngay vào đầu cuống họng, lập tức tiêu tan công hiệu lắm.
18. Kinh trị cổ họng sưng ăn uống khó vào.
hẹ 1 nắm, xát nóng đặt vào trước cổ, lấy vải rịt lại, nguội thì thay là hết sưng.
19. Kinh trị cuống họng bỗng nhiên sưng lên, ăn uống không xuống.
Trùn đất 14 con giã nát, rịt vào cổ, lại lấy 2 con khác cho vào ít muối liền hoá ra nước, hoà ít mật ong cho uống, công hiệu ngay.
20. Kinh trị chứng họng sưng đau:
Tỏi bóc vỏ, nhét vào tai và mũi, ngày thay 2 lần là khỏi.
Dưa chuột già 1 quả, bỏ ruột, dồn phác tiêu vào cho đầy, phơi dâm,tán nhỏ, thổi vào họng.
Quả nước giã nát vắt lấy nước đổ vào là thông ngay.
Dây và lá mướp giã nhỏ cho vào ít muối cho uống dần là khỏi.
Mộc nhĩ cây dâu lấy vào ngày 5/5, thứ trắng như vẩy cá. Khi dùng giã nhỏ, gói vào miếng lụa to bằng hòn đạn, tẩm mật và nước cho ngậm, công hiệu ngay.
Bồ kết 1 quả bỏ vỏ, tẩm giấm nướng khô, 7 lần, không để cháy quá, tán nhỏ dùng chút ít thổi vào họng, mửa được nước dãi là khỏi.
Phương trên gia thêm nửa phần phèn chua khuấy hồ làm viên mà ngậm, rất công hiệu.
Dầu mè 1 chung, đổ vào lành ngay.
Rơm lúa nếp đốt hứng lấy khói, cao lấy muội ấy hoà vào giấm mà đổ vào họng, sẽ cuộng hết đờm giãi ra là lành.
Rễ cây ké đầu ngựa 1 nắm,Gừng già 1 củ, giã vắt lấy nước, chế rượu vào mà uống là yên.
Bồ kết tán nhỏ hoà với dấm rịt vào chỗ lõm ở dưới hầu, khô lại thay cái khác, nếu có chứng nhũ ga(viêm họng hạt) thì cũng vỡ mũ là lành.
Ích mẫu để tươi giã nát đổ nước mới múc vào, vắt lấy nước đặc cho uống dần, mữa ra được là lành, mùa đông không có là ích mẫu thì dùng gốc cũng được.
Vỏ cây vải sắc nước ngậm 1 ít rồi nuốt nước, lành thì thôi.
Hạt cải tán nhỏ hoà với nước rịt vào dưới hầu, khô lại thay cái khác tự nhiên lành.
Đọt ngải cứu, giã lấy nước cho uống, lại lấy  1nắm ngãi cứu giấm giã nát dịt vào hầu, nếu không có ngải cứu tươi, thì khô cũng được.
21. Kinh trị trong họng bỗng nhiên mọc mụn sưng đau:
Ý dĩ hai nhân, nuốt chửng, chiêu với nước.
22. Kinh trị mùa đông bị chứng đau họng, không thể đổ thuốc vào được
Xà sàng tử, cho vào trong lọ đốt cháy ra khói để hút khói vào trong miệng đờm tự ra mà lành.
23. Kinh trị trong họng nổi mụn ăn uống không thông, chết trong nháy mắt.
Muội nồi tán nhỏ, trộn mật làm viên bằng ngón tay, mỗi lần uống 1 viên với nước mới múc, dù bệnh nặng lắm cũng 2 viên là lành.
24. Kinh trị đau họng sưng lở.
Hạt gai dầu (cần xà), kinh giới tuệ, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ, viên với mật to bằng hạt nhãn, gói vào lạu mà ngậm mà lành.
25. Kinh trị họng mọc mụn sưng đau:
Mật cá trắm 1 cái phơi khô, hoặc tẩm vào giấy phơi khô, mỗi khi dùng chút ít hoà với mật ong mà ngậm mà thông.
Phác tiêu tán nhỏ, dồn vào trong mật cá trắm, phơi râm lúc dùng thì lấy 1 ít cho vào họng mà ngậm mãư được là lành.
Đởm phàn, cho vào mật cá trắm, phơi râm để dành dùng (khi dùng làm như trên)
Cỏ nụ áo giã nát cho vào tý muối mà ngậm, là lành.
Chua me đất, bồ hòn, 2 vị giã nhỏ, mà ngậm, có khi bệnh nhân đã chết rồi mà tim còn nóng thì có thể dùng cái lông gà, chấm thuốc điểm vào trong họng, gây cho nước dãi độc chảy ra được thì sống.
Cứt chim sẻ 7 hạt, trộn với đường cát trắng làm 2 viên, gói vào lụa, ngậm nuốt, nước dãi ra được, tức thời lành ngay, nặng lắm chỉ dùng 3 viên là khỏi.
Kim ngân hoa cả cành và lá, giã tươi vắt lấy nước 1 bát, sắc còn 8 phân cho uống, không có cây tươi thì dùng hoa khô sắc đặc cho uống, bã dùng rịt bên ngoài càng tốt.
26. Kinh tri đau họng chứng nhũ nga:
Cây mã đề, cỏ seo gà, 2 vị giã với quả mơ muối, đổ rượu vào nấu 1 lúc rồi lấy ra, lại giã và vắt lấy nước, dùng cái lông ngõng nhúng thuốc ấy mà điểm vào chỗ đau, gây nôn ra đờm thì hết sưng.
27. Kinh trị chứng tắt tiếng do ngoại cảm phong tà khí lưu trệ.
Quế chi 2 phần, thạch xương bồ 4 phần, mỗi lần dùng 2 đ/c, dùng nước mới múc đun sôi, cho uống dần từng hớp 1 là thông.
28. Kinh trị tắt tiếng không nói được.
Củ cải tươi rửa sạch, giã vắt lấy nước cốt 1 chén, gừng giã vắt lấy nước 1 chút, hoaø ñeàu nhau, thöôøng thöôøng nhaáp nuoát thoâng ngay.
Sữa người, nước măng tre non. Mỗi thứ 1 chung hoà đều cho uống đều, những người tạng nhiệt uống phương này càng nhiều càng có ích.
29. Kinh trị bỗng nhiên tắt tiếng:
Trần bì 1 lạng, sắc lấy nước dần dần nhấp nuốt rất hay.
Quế tâm tán nhỏ, để chút ít trên lưỡi nuốt nước xuống là khỏi.
Ô dước thái nhỏ, dùng giấm tốt 2 chén sắc còn 1 chén, trước ngậm sau nuốt, mửa ra được đờm dãi là lành.
30. Kinh trị tắt tiếng vì trúng phong.
Hoa hoè 5 đ/c, để trên miếng ngói mới sấy khô ngày đêm thường nhai chút ít  rồi nuốt, rất hay,.
31. Kinh trị chứng đau họng khản tiếng.
Rượu 1 chung, váng sữa 1 muống, can khương tán nhỏ 1 thìa, 3 thứ hoà chung ngày uống 2 lần công hiệu.
32. Kinh trị chứng đau họng khản tiếng
Mỡ lợn 1 miếng, rán chảy nước, bỏ bã, đổ vào 1 thăng mật ong, nấu sôi lên, lắng trong chờ nguội, mỗi lần dùng 1 muỗng nhỏ, bất cứ lúc nào uống cũng được. Nếu người không bệnh, thường uống cũng tốt.
 
 
VIII – HÓC XƯƠNG
Hóc xương là do ăn các thứ xương hay vật cứng, cắn nhai không nhỏ đã nuốt, mắc ngang cổ họng, khạc không ra, nuốt không xuống thậm chí gần chết, nên chiếu phương sau đây mà chữa.
1. Truyền trị mắc các thứ xương, đã dùng nhiều phép mà xương vẫn không xuống.
Hàn the 1 cục to bằng hạt đậu đen ngậm vào giây lát là tiêu xuống.
Lươn vàng 1 con, còn sống đút đuôi vào trong cổ cho lương ngo ngoe là thông.
hạt trám (cà na) treo giàn bếp lâu năm, khi dùng lấy 1 hạt đốt ra tro tán nhỏ, hoà với cặ dầu ở đãi đèn đem bôi vào họng là ra ngay.
Xương hổ, mài với nước cho đặc uống vào là thông.
Ngà voi mài với nước cho đặc uống vào là thông.
Móng tay người đốt tán nhỏ, dùng ống trúc xúc thổi vào họng là khỏi.
2.Kinh trị bệnh hóc do nuốt nhầm đồng tiền hoặc vật khá
Lá ké đầu ngựa 1 nắm, nước lạnh 1 thăng, nhúng lá ké đầu ngựa vào nước, nhúng vào lấy ra 80 lần rồi uống nước ấy là lành.
mộc tặc tán nhỏ 1 đ/c, hoà với lòng trắng trứng gà mà uống, hoặc khạc ra, hoặc nuốt xuống được là lành.
Lá ngãi cứu tươi 1 nắm, cả rượu và nước  1 thăng, nấu lên cho uống là thông.
Sa nhân, sắc lấy nước đặc mà uống thì xuống.
3. Kinh trị mắc xương cá:
Cùi quả trám hoặc nhân, hạt. tán nhỏ hoà với nước chảy cho uống xuống ngay.
Xương chim cồng cộc, đốt ra tro, tán nhỏ, hoà 1 đ/c với nước mà uống là lành.
Nuốt 1 cục mỡ heo, chưa xuống thì nuốt thêm.
tỏi nướng lên, nghiền nhỏ hoà với rượu cho uống là khỏi.
Rễ mướp ngày 7/7 đào lấy phơi râm, lúc dùng đốt tồn tính tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c, hễ mắc xương cái gì thì lấy cái ấy nấu nước mà uống với thuốc tán, thì khỏi.
vỏ quýt chín đỏ, 1 vốc, nhai mà nuốt nước là thông ngay.
cỏ xước tươi 2 đ/c gừng sống, gừng sống 1 đ/c, đều giã nát, vắt lấy nước cốt, cho vào lỗ mũi chảy nước bọt ra là khỏi.
củ đại liền 3 đ/c, nhai nhỏ, nuốt xuống, rồi khạc ra thì nó theo ra.
4. Kinh trị nuốt nhầm phải tóc vào họng, không khạc ra được và nuốt vào được.
Lấy 1 nắm tóc rối của người bị hóc, đốt ra tro, hoà với nước mà uống là xuống.
 
 
IX - NỔI HẠCH
Nổi hạch là do đàm đọng lại không thông ra, uất kết cứng rắn như cái hột trong quả, hạch nổi ở đầu, cổ, trán, hoặc chân tay, nách, háng, không đau không ngứa, không sưng, đỏ, dù lâu ngày  vẫn không làm mũ không phá vỡ. Phép chữa nên đánh tan nhiệt khí thì hạch tự tiêu.
Chứng mai hạch khí (loạn cảm họng) thì trở ngại trong cuống họng như ngậm hạt mơ mà không khạc ra, nuốt không xuống đó là do mừng giận quá độ, nhiệt khí nung nấu, tích lại và đờm độc uất kết mà sinh bệnh. Phép chữa nên dẫn đờm khai uất, thanh nhiệt thuận khí để cho hạch tự tiêu đi.
1. Kinh trị chứng nổi hạch dưới cằm.
Nhện hùm, bất cứ nhiều ít, giã nát ngâm rượu ngon, chờ lắng trong, lọc bỏ bả, cho uống lúc đi ngủ rất hay.
2.Truyền phương chữa chứng nổi hạch.
Mẫu lệ, tán nhỏ, mỗi lần dùng 1,2 đ/c, uống với nước trà rất hay.
3. Kinh trị chứng hạch đờm, nổi ngoài da, ở mặt, trên đầu lớn thì bằng ngón tay, nhỏ thì bằng hạt thóc, hoặc mềm hoặc cứng, không nhức, không ngứa.
Nam tinh 1 củ, nghiền nát nhỏ,hoà vào ít giấm thanh, lấy kim châm vào hạch cho thông khí trước, rồi dán thuốc vào, thấy ngứa thì thay miếng khác, sẽ khỏi.
Nam tinh, phèn chua cùng nghiền sống, hoà nước vào như bùn, đắp vào chỗ nổi hạch là tiêu hết.
4. Kinh trị hạch nổi sau gáy, hoặc sưng đỏ, cứng đau:
Củ mài tươi 1,2 tấc, hạt thầu dầu 2 hột, cùng nghiền chung đặt vào là lành.
5. Kinh trị nổi hạch ở cổ họng như hạt mơ
Quả mơ chín hườm, mỗi quả dùng 1 lạng muối, nhỏ vào ít nước, ướp 1 ngày 1 đêm rồi phơi khô cứ đêm ướp ngày phơi khô cho hết nước muối mới thôi, dùng 3 đồng tiền cổ kẹp lấy 2 quả mơ, lấy dây gai cột chặt lại, bỏ vào hũ sành đậy nút kín chôn xuống đất 100 ngày thì lấy lên, mỗi lần dùng 1 quả ngậm nuốt nước vào họng là tiêu, 1 quả trị 1 người, 2 quả trị 2 người, hay tuyệt.
6. Truyền trị bệnh tràng nhạc nổi ở cổ:
Rau sam giã nát, 1 nửa hoà với nước mà uống còn 1 nửa sắp trên là chuối, rắc bột phác tiêu lên trên, đem rịt vào chỗ đau, ngày thay 1 lần.
Rau giệu cũng làm như cách trên.
 
 
X - KIẾT LỴ
Kiết lỵ là trong bụng quặn đau, đại tiện bức bách, mót ỉa, mà rặn không ra, phân ra hoặc trắng hoặc đỏ, hoặc vàng, đen, hoặc như óc cá, hoặc như nước nhà dột. Đó là vì bệnh có nặng nhẹ chứng có hàn nhiệt không giống nhau, nhưng đại để là do vị bị thấp nhiệt hay thực tích mà sinh bệnh, thấp nhiệt, thực tích phạm đến huyệt thì đại tiện đỏ, phạm đến khí thì đại tiện trắng, mà phạm đến cả khí huyết thì đại tiện trắng đỏ lẫn lộn, đại tiện vàng là thực tích, đen là nhiều thấp,. Nội kinh “Đại tiện đỏ là thuộc huyết, bệnh ở đại tràng, đại tiện trắng là thuộc khí bệnh ở tiểu tràng. Phép chữa bệnh mới phát thì nên hạ, bệnh lâu thì nên bổ, cốt ở nơi châm chước.
1. Kinh trị chứng lỵ, trước đỏ sau trắng, lâu năm không lành, hễ trước trắng sau đỏ là lỵ, trước đỏ sau trắng là giun sán thì nên dùng phương này:
Rễ ngưu tất 1 nắm to rửa sạch giã nát dùng 1 chén rượu để tẩm 1 đêm, sáng hôm sau uống lúc đói bụng, uống 2,3 lần lành thì thôi.
2. Truyền phương chữa mọi chứng lỵ đều công hiệu.
Sầu đâu cứt chuột đập vỡ bỏ vỏ lấy nhân, dùng vải gói lại dùi gỗ cán bỏ dầu, luyện hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, liều dùng 7 viên, uống với giấm thanh, uống cách xa bữa ăn, khỏi ngay.
Rễ cây sầu đâu cứt chuột, rửa sạch cắt nhỏ, phơi khô tán nhỏ, luyện hồ làm viên bằng hạt đậu xanh, bệnh nhẹ uống 5,6 lần bệnh nặng 10 viên với nước cơm.
Trị đi lỵ ra máu: Dây tầm phỏng sắc lấy nước thật đặc mà uống.
Lá ngải cứu, vỏ quýt 2 vị bằng nhau, sắc lấy nước mà uống hoặc tán nhỏ, đổ rượu vào cơm nấu cho nhừ rồi nhồi viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 2,3 viên với nước muối là lành.
Da nhím đốt cháy tán nhỏ, 2 đ/c hoà với rượu mà uống rất hay.
Hành tăm 1 nắm, giã nát nấu cháo với gạo tẻ mà ăn tự lành.
Bọ hung, đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đồng với rượu vào lúc đói rất hay.
Cứt ngựa 1 cục, đốt tán nhỏ hoà với nước cơm mà uống thì khỏi.
Cứt trùn 1 thăng, sao cho hết khói, thừa lúc đang nóng chế và 1 bát nước quây lên đợi lắng trong lấy nước mà uống rất công hiệu.
Rễ cây mơ, cỏ seo gà, hạt mã đề, đều bằng nhau, rửa sạch cắt nhỏ, sắc đặc uống
Rây tầm phỏng, ké đầu ngựa, dùng cả cành và lá, 2 vị đều nhau giã nát, mỗi lần dùng 4,5 đ/c nước 3 bát sắc còn nửa bát, lọc bỏ bã cho vào tý muối, uống lúc đói rất hay.
Ngũ bội tử 1 lạng, phèn phi 5 đồng cân, tán nhỏ khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 40-50 viên, uống với nước trà để lâu năm, vào lúc đói, uống được 3 lần thì hết chất bẩn trong ruột, phân sẽ sắc vàng trở lại, đã kinh nghiệm chữa khỏi nhiều người.
Lá thanh hao, lá ngải cứu, hái vào ngày 5/5 AL, hai vị bằng nhau, tán nhỏ, gia lẫn với đậu sị, vắt thành bánh, mỗi bánh dùng 1 thăng nước sách uống công hiệu.
Cây ích mẫu phơi khô, muối lâu năm, ô mai đốt tồn tính, 3 thứ bằng nhau, tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đ/c như lỵ đờm thì thang với nước can khương, lỵ máu thì thăng với  nước cam thảo, công hiệu.
Lá ké đầu ngựa, rửa sạch sắc cho nát bét, lọc bỏ bã, vào chung với mật thành cao, mỗi lần hoà 1,2 thìa với nước sôi mà uống, rất công hiệu.
Gà mái nâu 1 con, , nhổ long, rửa sạch, lấy muối trộn với giấm phết vào nướng qua, nấu thật chín mà ăn rất bổ ích.
hạt mùi 1 vốc sao thơm tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đồng, lỵ ra máu thỉ uống với nước đường, lỵ đờm thì uống với nước gừng, ngày uống 2 lần công hiệu.
3. Truyền trị mọi chứng lỵ, hoặc xích lỵ, mót rặn, ngày đêm đi luôn.
Hoàng đơn lắng qua lấy nước rồi sao khô 8 phần, ba đậu gói nhiều lớp giấy đập bỏ đầu 5 phần, sáp vàng 8 phần, nấu chảy, trộn đuề làm viên bằng hạt đậu xanh, mỗi lần dùng 6,7 viên, dần tăng lên 15 viên, uống với nước cơm vào lúc đói, nếu xích lỵ thì nấu nước rễ tranh làm thang, bạch lỵ thì nấu nước lá ngải cứu và gừng làm thang, người bệnh lâu ngày hoặc già yếu thì chớ dùng.
4. Kinh trị kiết lỵ lâu ngày không khỏi, dù chất bẩn trong ruột dã ra:
Mơ 20 quả, sắc với 1 bát nước 6 phần, uống lúc đói rất hay.
5. Kinh trị chứng hưu tức lỵ, khi phát khi khỏi, lâu năm không khỏi.
Xương hổ nướng vàng cháy, tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đ/c với nước cơm, hoặc nước nóng, ngày 3 lần công hiệu.
6. Kinh trị chứng sau khi đi lỵ, tiểu tiện đi nhiều, bụng đầy và rất đau, là do âm dương không điều hoà.
Quả dành dành, củ riềng, mỗi thứ 3 đ/c, tán nhỏ, mỗi lần uống 2,3 đồng với nước cơm, hoặc rượu nhạt vào lúc đói là lành.
7. Kinh trị đi lỵ lâu ngày, ăn uống không tiêu.
Chỉ thực bỏ ruột, sao tán nhỏ, mỗi lần uống 2,3 đ/c với nước cơm vào lúc đói là công hiệu.
8. Kinh trị chứng kiết lỵ đi mãi không ngớt, ợ khan, gầy yếu, hay ngã, mặt đỏ là do trùng.
Nước mật heo, giấm tốt nước gừng, ba thứ bằng nhau, hoà lẫn thấm vào lỗ đít cho hơi giấm xông lên cổ họng luôn luôn, thì đi tả ra chất độc ngũ sắc và trùng mà khỏi.
9. Kinh trị chứng xích bạch lỵ, đi máu và đờm lẫn lộn, bụng đau mót rặn khát nước tiểu tiện đỏ gắt là do tỳ vị trích trệ, nên dùng thuốc “thông khí hoá trệ”
Thanh mộc hương, đại hồi, hắc sửu sao vừa, hạt cải củ sao, hạt cau. Các vị đều nhau, tán nhỏ viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30 viên với nước cơm vào lúc đói là khỏi.
10. Kinh trị mọi chứng xích bạch lỵ, đau bụng mót rặn.
Lá lấu đực sao khô, đất lòng bếp đều tán nhỏ, xích lỵ thì dùng rể vậy đỏ sắc nước làm thang, bạch lỵ thì dùng rễ vậy trắng và chút ít can khương sắc nước làm thang mà uống, là khỏi.
Củ mài, gương sen, 2 vị bằng nhau, phấn thảo nửa phần, cùng tán nhỏ mỗi lần uống 2,3 đ/c, thang với nước trà, tuy uống nhiều phương không khỏi, chỉ uống 1 lần thì yên.
Hạt bồ kết (sao lẫn cám), chỉ xác. Đều bằng nhau tán nhỏ, luyện với cơm làm viên bằng hạt ngô đồng mỗi lần 30 viên với nước cơm.
Hắc sửu (hạt bìm bìm biếc) sao, nghiền lấy lớp bột 2 đ.c, sắc nước tim bấc làm thang mà uống vào lúc đói, sau khi uống rồi cho ăn cháo trắng bồi bổ.
11. Kinh trị chứng cấm khẩu lỵ không ăn được.
Thạch liên nhục, bỏ vỏ và tim, sao qua tán nhỏ, liều dùng 1,2 đ/c uống với nước trần mễ, thấy muốn ăn là công hiệu hoặc lỵ kinh niên không khỏi hao tổn tinh huyết mà thành lao lỵ biến sinh nhiều chứng, ngũ tạng phiền nhiệt thì thêm củ mài sao hạt sen tán nhỏ.
Củ cải sắc nước hoà với ít mật, uống lúc đói, đến lúc muốn ăn thì lấy thị nấu cháo mà ăn, nhưng không ăn quá nhiều.
Tỏi giã nát, rịt vào giãư 2 lòng bàn chân và lỗ rốn là công hiệu.
CỐm chồi bỏ vỏ, tẩm nước gừng cho ướt, lại sao khô tán nhỏ, mỗi lần uống 2đ/c với nước nóng, ba lần uống là khỏi.
Cá diếc to, để nguyên vẩy, bỏ ruột, dồn vào 1 cục phèn chua bằng đầu ngón tay, đem đốt tồn tính tán nhỏ, mỗi lần uống 1,2 đ/c với nước cơm vào lúc đói.
12. Kinh trị chứng lạnh lỵ đi ngoài luôn, mà không cần mót rặn.
Sa nhân sao, gan dê, thái mỏng sấy khô trên miếng ngói, can khương, các vị đều nhau tán nhỏ, luyện với cơm và viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30-40 viên với nước đun sôi, ngày 2 lần là khỏi.
Củ mài nửa để sống, nửa sao, tán nhỏ, mỗi lần uống 2,3 đ/c với nước cơm, là khỏi.
Cá diếc, nấu canh với hẹ mà ăn là công hiệu.
Lá lốt 1 nắm sắc uống là yên.
13. Truyền trị đi lỵ ra máu vì nhiệt độc:
Dành dành 14 quả bỏ vỏ, tán bột, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần 3 viên, ngày uống 3 lần rất công hiệu, sắc nước uống cũng được.
Ô mai bỏ hạt lấy cơm, hoa hèo sao qua, 2 vị bằng nhau tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c với nước cơm hết ngay.
cỏ tháp bút 5 đồng, uống lúc đói là khỏi.
Ngũ bội tử, sao tán nhỏ, ô mai ng6am nước bóc lấy cơm, giã nát làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 50-60 viên với nước nóng là khỏi.
Lá sen, sắc với nước chảy mà uống rất hay.
Ô dước đốt tồn tính tán nhỏ, dùng cơm gạo trần mễ, giã nhuyễn làm viên bằng hạt ngô đồng, uống 30 viên 1lần với nước cơm vào lúc đói là lành.
Hạt gai dầu (cần xa) nghiền với nước lọc bỏ bã, nấu với đậu xanh cho chín mà ăn. rất tốt.
Bạc hà sắc uống thường xuyên, rất hay.
Can khương, đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c uống với nước cơm, rất hay.
Mộc nhĩ sao, đốt tồn tính tán nhỏ, uống với rượu, hặoc uống với nước giếng ban mai cũng công hiệu.
14. Kinh trị lỵ đi ra múa đau thắt ở bụng rốn.
Đậu sị 1 vốc, sắc với nước 1 bát, sôi 2 dạo thì uống, nếu xích bạch lỵ lẫn lộn thì dùng đậu sị mài đen, sắc lên mà uống thì công hiệu.
15. Kinh trị lỵ đi ra máu do tỳ thấp:
Thanh bì bỏ ruột sao, hoa hèo sao, kinh giới, 3 vị bằng nhau sắc uống lúc đói, là khỏi.
16. Kinh trị lỵ đi ra máu, đau bụng, hoặc đi ra chất như óc cá, nhiều màu sắc lẫn lộn đó là do độc rượu:
Mướp 1 quả, để cả vỏ và hạt đốt cháy tán nhỏ mỗi lần dùng 2 đ/c với rượu vào lúc đói là khỏi.
17. Kinh trị lỵ đi ra máu mủ ngày vài chục lần, lâu ngày không khỏi là do phong độc.
Tạo giác thính, hoa hoè để sống, chỉ thực sao với cám, đều bằng nhau, tán nhỏ, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30 viên với nước cơm, ngày 3 lần hay lắm.
18. Kinh trị đi lỵ ra máu mũ không khỏi:
Quán chúng 5 đ/c, nửa rượu nửa nước sắc cho uống, rất công hiệu.
19. Kinh trị đi lỵ khát nước uống rất nhiều:
Mạch môn đông, bỏ lõi 3 lạng, ô mai bỏ hạt 20 quả, nước 1 thăng, sắc còn 9 phần, cho uống dần là công hiệu.
20. Kinh trị kiết lỵ đi ra phân sắc xanh:
Can khương, cắt nhỏ như hạt đậu đen, mỗi lần uống 6,7 hạt với nước cơm ngày 3 lần là khỏi.
21. Kinh trị chứng kiết lỵ do ăn các đồ sống lạnh như: Cua, trai,,,tỳ vị bị lạnh mà sinh ra, chữa nhiều phương vẫn không khỏi.
Ngó sen giã nát uống với rượu nóng, vài lần là khỏi.
22. Truyền phương chữa kiết kỵ hay như thần:
Dây mơ lông, cỏ seo gà, rễ cỏ tranh rẽ cây phèn đen, đều bằng nhau, gừng sống dùng chút ít, sắc đặc để nguội cho uống lúc đói.
23. Truyền phương chữa kiết lỵ đi ngoài ra máu mà chữa nhiều thuốc không khỏi.
Vỏ ốc bươu lẫn trong đất đã lâu năm, rửa sạch tán nhỏ liều dùng 2,3 đ/c uống với nước chín là khỏi.
24. Trị chứng kiết lỵ ngày đêm đi vô độ:
Cỏ seo gà, rễ cỏ tranh, lá phèn đen, lá mơ lông, vỏ cây chuối, nam mộc hương, củ cỏ cú, lá ngải cứu, có đau xoắn trong ruột thêm Hoàng liên, chỉ xác, Hạt cau, đi ngoài ra nhiều máu gia thêm Hồng hoa, tô mộc, sắp ong, sắc uống.
25. Kinh trị kiết lỵ đi ngoài ra máu, giỏ từng giọt không khỏi.
Địa du, Hoàng bá, 2 vị đều bằng nhau, tán nhỏ, liều dùng 3 đ/c uống với nước cơm, mót rặn thì gia Mộc hương, đậu xanh, củ nâu.
 
XI - ỈA CHẢY.
Bệnh ỉa chảy có 8 loại: Thấp, phong, hoả, đờm, thực tích, tỳ tả, thận tả,,, làm sao mà biết:
- Đi ngoài a nước như xối bụng, không đau là thấp.
- Đau bụng đi ngoài  như nước nóng, mỗi cơm đau lại đi ngoài 1 lần là hoả.
- Mới ăn vào lại đi ngay, cơm cũ không tiêu là phong.
- Đi ngoài lúc nhiều lúc ít, khát nhiều là đờm.
-Đau bụng dữ dội rồi đi ngoài, đi ngoài được mà giảm đau là thực tích.
- Đau bụng chân tay lạnh là hàn.
- Thường đi lỏng đấy là tỳ tiết.
- Canh năm mới đi ngoài là thận tiết.
Bệnh này hình như dễ chẩn đóan , nhưng gặp phải bệnh phức tạp khó đoán  thì kê đơn cứu chữa cũng rất khó. Khó là vị tỳ là mẹ của tạng khác mà bệnh ỉa chảy hay làm hại tỳ tức là hại đến nguyên khí của con người, cho nên không đươc coi thường.
1. Kinh trị chứng tỳ hư ỉa chảy lâu năm:
Ví như đất với nước đồng hoá nhão ra, phương này có thể làm ấm bàng quang, để đái được trong thì ruột già chặt lại. Tuỳ thuốc khác cũng hay, nhưng không thể  gạn lọc chất đục và chất trong đươc.
Hạt sen già bóc vỏ tím, sao vàng tán nhỏ, liều dùng 2 đ/c, nấu nước trần mễ cho uống lúc đói rất hay.
2. Kinh trị chứng bỗng nhiên đi tả, bụng chướng lên, ngày đêm đi mãi, dùng mọi thuốc đều không khỏi đi khí thoát.
Ích trĩ nhân 2 lạng sắc đặc cho uống là khỏi.
Sáp ong mỗi lần dùng 2 đ/c, đập vào 2 quả trứng gà, 1 ít muối xào chín mà ăn, chưa khỏi thì làm lại lần nữa.
Lấy 4,5 hạt hồng xanh, bọc giấy ướt nướng cho ăn.
3. Kinh trị thổ tả không dứt, tay chân giá lạnh, bất tỉnh nhân sự.
Nam tinh tán nhỏ trộn với giấm rịt vào gan bàn chân, hết ngay.
4. Kinh trị hàn tả ỉa ra toàn nước.
Can khương nướng tán nhỏ, liều dùng 2 đ/c, uống với nước cháo là công hiệu.
5. Kinh trị sau khi thổ tả, thoát dương nguy cấp, chân tay giá lạnh, bất tỉnh nhân sự.
Hành trắng giã nát, xào nóng, chườm vào lỗ rốn, lại dùng 21 tép hành khác giã nát, hoà với rượu cho uống thì hồi dương, thật là phương thuốc thần.
6. Kinh trị đau bụng ỉa chảy do tạng hàn cực hư:
Lưu hoàng, sáp ong, đều 2 lạng, nấu chảy tan ra, làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 5 viên, uống với nước mới múc rất hay.
7. Kinh trị ỉa chảy lâu ngày sắp nguy, dùng mọi thứ thuốc đều không khỏi vì thận chủ về đại tiểu tiện, ỉa chảy lâu ngày thì thận hư, không nên chuyên chữa về tỳ vị.
Cốt toái bổ tán nhỏ dùng trái cật heo bổ đôi, móc bỏ cái trắng ở giữa, nhét thuốc tán vào, áp lại nướng chín mà ăn là lành.
8. Kinh trị ỉa chảy lâu ngày, ăn kém sút.
Gạo nếp 1 thăng, ngâm nước 1 đêm, phơi khô sao chín, củ mài 1 lạng đều tán nhỏ, trộn đều mỗi sáng dùng 1 vốc, cho vào 3 muỗng đường cát và ít ạht hồ tiêu, quậy với nước sôi mà uống, mùi vị rất ngon mà bổ ích, uống lâu còn có tách dụng ấm tinh khí để có con, đây là phương thuốc bí truyền.
9. Kinh trị chứng chứng nhiệt tả ỉa mãi không thôi.
Lá mã đề giã vắt lấy nước cốt, hoà với hoà với 1 chung mật ong sắc nóng lên cho uống, hoặc dùng hạt mã đề tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c với nước cơm, rất hay.
Muội nồi tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c với nước cơm cầm ngay.
Ngải cứu lâu 1 năm 1 nắm, Gừng sống 1 củ, Sắc cho uống nóng là khỏi.
Rễ sầu đâu cứt chuột 2 phần lá sầu dâu cứt chuột 1 phần. Sắc nước uống  khi đói rất hay.
Lá dây củ nâu, lá lấu mỗi thứ 1 nắm, sắc cho uống là cầm ngay.
Lá vông, nấu sôi xông vào lỗ đít, lúc nước ấm thì rửa tay chân, lại dùng tỏi giã nát, dịt 2 lòng bàn chân và giãư lỗ rốn, cầm ngay.
10. Kinh trị ỉa chảy dùng mọi thức thuốc đều không khỏi.
Dạ dày lợn 1 cái, tỏi 2,3 tép dồn vào trong cái bao tử heo nấu chín, giã nhỏ làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 30 viên, uống với nước cơm vào lúc đói là khỏi.
11. Kinh trị bỗng nhiên bị ỉa chảy, ngày đêm không ngớt sắp chết.
Lá gai hái ngày 5/5 ÂL phơi dâm tán nhỏ, mỗi lần dùng  2 đ/c (trẻ em nửa đ/c) uống với nước lạnh chớ dùng nóng mà làm cho bệnh nhân xốn xáo khó chịu.
Dây mơ dại, cả rễ và lá 1 nắm, sắc đặc chờ nguội, uống vào lúc đói là cầm ngay.
12. Kinh trị ỉa chảy không ngớtvà cũng chãư được chứng xích bạch lỵ
Vỏ quả lựu, vỏ cây lựu đốt tồn tính tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c uống với nước cơm vào lúc đói rất hay.
13. Kinh trị chứng ỉa chảy mùa hè.
Ngũ bội tử tán nhỏ, luyện với cơm làm viên bằng ạht đậu xanh, mỗi lần dùng 20 viên thăng với nước lá sen.
14. Kinh trị ỉa chảy ra máu:
Hạt mùi 1 vốc, sao thơm tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c với nước chín, ngày uống 2 lần rất tốt.
Địa phu tử sắc lấy nước (không có hạt thì dùng lá vắt lấy nước bỏ bã), nấu cháo với gạo tẻ mà ăn, sẽ lành,
Tóc rối 5 đ/c, đốt thành tro, bông mồng gà, lá trắc bá, mỗi vị dùng 1 lạng tán nhỏ, liều dùng 2 đ/c uống với rượu lúc đi ngủ, sáng hôm sau cho uống 1 chén rượu nóng, chỉ 1 lần là kíên hiệu.
Hoa hoè, hạt mã đề, bằng nhau, sao chung tán nhỏ liều dùng 2 đ/c uống với nước là yên ngay, khỏi thì thôi.
15. Kinh trị đi ỉa chảy ra máu không ngớt.
Có tháp bút lúc đói sắc cho uống là khỏi.
Lá đơn đỏ 1 nắm sao cháy tán nhỏ, liều dùng 1 đ/c uống với nước cơm hoặc sắc cho uống đều là tốt.
chữa người lớn trẻ em ỉa chảy, kiết lỵ, dùng cỏ tràng hàn.
Củ cỏ cú, nam mộc hương, vỏ cây chuối, vỏ cây sung, vỏ cây vải, vỏ cây sắn, vỏ củ nâu, các vị đều bằng nhau, tán nhỏ luyện hồ làm viên bằng hạt đậu xanh, liều dùng 5 viên, có khát nước thì dùng củ sắn dây sắc làm thang, thổ tả thì thang bằng nước cơm, lỵ thang bằng nước chè.
16. Chữa chứng nhiệt tả.
Hạt mã đề, sao qua tán nhỏ, liều dùng 1 đ/c, hoà nước cơm mà uống.
Lá dâu, rễ trâng, lá chỉ thiên, bằng nhau sắc uống.
 
 
XII – ĐÁI ĐỤC.
Bệnh đái ra toàn nước đục không trong, là do tử sắc quá độ, lo nghĩ buồn phiền khiến tâm thận đều hư mà không chủ trì được,nguyên tinh không giữ vững mà sinh ra bệnh này. Tâm suy mà ghé nhiệt thì đái đục màu đỏ, gọi là xích trọc, tâm suy thêm thận hãn thì đái đục mà trắng gọi là bạch trọc, âm không thang dương không giáng, trên dưới trái ngược nhau thì đái ra chất trắng đỏ lẫn lộn nhưng đại để đều do nhiệt mà ra cả.
Về phép chữa nên thanh tâm hư thận, giáng hoả trừ đờm làm chủ yếu.
1. kinh trị chứng đái đcụ, đái dắt, đái ra chất trắng như dầum màu sắc biến đổi, cặn lắng xuống như cao, như hồ, do nguyên khí không đủ, hạ tiêu hư tàn mà ra.
Ích trĩ nhân, tỳ giải, thạch xương bồ, ô dướuc, đều bằng nhau bốc làm 1 thang, sắc gần được thì cho múm muối, uống lúc đói là bệnh yên.
2. Kinh trị bệnh đái ra chất đục, trắng.
Rơm lúa nếp sắc đặc lấy 1 bát, phơi sướng đêm sáng sớm cho uống rất hay.
Củ cải, khoét rỗng ruột, dồn Ngô thù dù vào đậy kín lại cho vào cho đồ chín rồi lấy ra, bỏ hết ngô thù dù, chỉ lấy củ cải sấy khô, tán nhỏ khuấy hồ làm viên, bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 50 viên, uống với nước muối, ngày uống 3 lần rất hay.
Hạt bí đao, thứ để lâu ngày càng tốt, sao tán bột, mỗi lần dùng 5 đ/c, uống với nước cơm vào lúc đói công hiệu.
Lá dướng sấy khô tán nhỏ, khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 50 viên với nước sôi vào lúc đói rất hay.
Ngài tằm cấu bỏ đầu, chân, cánh, sấy khô tán nhỏ, giã với cơm làm viên bằng hạt ngô đồng đỏ xanh 40 viên, uống với nước muối nấu lên vào lúc đói rất hay.
3. Kinh trị chứng đái đục vì bệnh hư lao.
Xương dê, tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c uống với rượu nhạt vào lúc đói là khỏi.
4. Kinh trị chứng đái đục vì khí hư
Gạc hươu, đẽo vụn 1 nắm, sao vàng tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c, uống với rượu vào lúc đói, cầm ngay.
5,. Kinh trị chứng đái đục vì thận hư đau nhói 2 bên sườn cùng xương sống:
Ngũ vị tử 5 lạng, sao tán nhỏ, dùng giấm khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 30 viên, uống với nước giấm hoặc nước nóng.
6. Kinh trị chứng đái đục bụng đầy, bất kỳ trai gái đều công hiệu.
Ích trĩ nhân, tẩm nước muối sao, Hậu phác, tẩm gừng sao, đều bằng nhau, gừng 3lát táo 1 quả, sắc nước uống, rất hay.
7. Kinh trị chứng đái ra nước đục màu đỏ do tâm thận hư kém, tinh ít, huyết ráo, miệng khô, phiền nhiệt, đầu choáng váng, hồi hộp:
Thỏ ty tử, mạch môn đông, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ, luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 70 viên, uống với nước muối lúc đói rất hay.
8. Kinh trị chứng đái ra nước đục màu đỏ vì lao tâm:
Hạt sen già, bóc bỏ lõi 2 lạng, chích cam thảo 4 đ/c, đuề tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c sắc nước cỏ tim bấc làm thang mà uống lúc đói, rất hay.
9.Truyền trị chứng đái ra nước đục màu trắng, tiểu tiện tự ra không nín được.
Sài hồ, Nhân trần, mộc thông, đều bằng nhau, sắc uống vào lúc đói ngoài ra dùng lá hẹ 1 nắm sắc đặc, nhân lúc nóng xông vào ngọc hành, là lành.,
10. Truyền trị chứng đái đục:
Rễ cây vông vang 1 nắm, cạo sạch vỏ ngoài giã nát, đổ nước 3 phần sắc còn 1 phần, phơi sương 1 đêm, uống lúc đói, rất hay.
Rau muống 1 nắm, vò nát lấy nước đặc, lắng lấy nước trong 1 bát, hoà với 1 chén mật, uống lúc đói, là kiến hiệu.
Tiếp trang  194
XIII – DI TINH
Di tinh là tinh khí trong ngọc hành tự chảy ra, phát bệnh có chia ra 2 loại hư thực khác nhau, phải dò xét cho kỹ.
Phàm người trai tráng khỏe mạnh, mà ở nễ 1 mình, vì mơ tưởng dục tinh, hoặc nằm mộng thấy gái mà xuất tinh, đấy là tinh khí vì tràn đầy mà tiết ra, không cần phải dùng thuốc, được thỏa mãn tình dục là hết bệnh. Con người nguyên khí hư kém tâm không tàng thần, thận không tang tinh mà di tinh, nằm mơ thấy giao hợp mà xuất tinh thì chủ yếu là phải bổ dưỡng tâm thận, mà trước hết phải điều hòa tỳ vị, làm cho tâm thận được cũng cố, tỳ vị được bồi bổ, thì bệnh tự khắc khỏi.
1. Kinh trị bỗng nhiên di tình hoặc nằm thấy giao hợp mà xuất tinh.
Quả hòe 4 lạng, đậu đen 1 vốc, sao chung cho thơm them bạch chỉ, và hồ tiêu (người bệnh bao nhiêu tuổi thì bấy nhiêu hạt tiêu)sao qua cùng ngâm rượu cho uống. lúc đói tùy ý mà uống thì bệnh sẽ khỏi.
2. Kinh trị chứng di tinh, rỉ giọt, đi tiểu sót lại và ban đêm hay đi tiểu
Ích trỉ nhân 24 hạt, sắc nước cho vào ít muối mà uống, chưa khỏi thì làm them uống.
3. Kinh trị di tinh vì nội nhiệt
Rỉ sắt tán nhỏ liều dùng 1 đ/c uống với nước lạnh, chỉ uống 3 lần là kiến hiệu.
Cỏ nhọ nồi ( cỏ mực)  sấy khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c với nước cơm vào lúc đói hoặc lấy nước hòa với 1 chén mật, nửa chén rượu mà uống, uống được lâu thì tóc râu đen lại, kiên tinh cố tủy, rất hay.
4. Kinh trị chứng nằm mộng xuất tinh.
Hạt tía tô vài lạng tán nhỏ, mỗi liều dùng 1 đ/c với rượu, ngày 2 lần là kiến hiệu.
5. Kinh trị mơ mộng mà di tinh.
Xương sống mũi đầu chó, đốt thành than tán nhỏ, mỗi liều dùng 2 đ/c uống với rượu lúc đi nằm là khỏi.
6. Kinh trị nằm mơ giao cấu mà di tinh.
Củ hành thái mỏng lúc đói nấu cháo ăn ngày 5,6 lần thì khỏi.
7. Kinh trị trai hoặc gái thường chime bao thấy giao cấu với quỉ, tinh thần hoảng hốt người càng ngày càng gầy.
Gạc hươu đẽo nhỏ, tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c uống với rượu vào lúc đói rất công hiệu.
 
XIV – LÂM CHỨNG
Lâm chứng là chứng đi đái rất khó khăn, đau buốt trong ngọc hành, muốn đái không đái được nguyên là vì ham ăn đồ cao lương hậu vị, rượu nồng, thịt nướng quá nhiều, hoặc ho lo nghĩ, sắc đục quá độ, đến nỗi thủy hỏa  mất điều hòa, tâm thận không còn giao thong với nhau, mà sinh 5 chứng lâm như “khí lâm” “sa lâm” “huyết lâm” “cao lâm” và “lao lâm”.
Khí lâm là chứng đái gắt, thường mỗi khi đái sót lại mấy giọt (lậu khí)
Sa lâm là lậu ké, di tinh khí đọng lại trong ngọc hành, mỗi khi đi đái đau buốt, đái không ra, hễ ra đươc thì tận gốc.
1. Kinh trị chứng khi đái thấy đau buốt, hoặc đái ra máu, ra cát, đái ra sạn sưng đau.
Ngư tất 1 lạng, nước 2 bát, sắc lấy 1 bát uống nóng hoặc cho vào 1 tý rượu mà uống rất hay. Nếu đái buốt ra máu thì uống với bột Hoạt thạch 1 lạng, nếu đau thì gia them ít xạ hương và nhũ hương càng hay. 1 người đàn bà bị bệnh này 10 năm, nhờ uống bài này mà khỏi.
2. Bài thuốc kinh nghiệm chữa 5 chứng lâm
Cỏ chỉ thiên, rễ cây vậy đỏ, rễ cây vậy trắng, rễ tranh thịt ốc bươu, cỏ bấc, đều bằng nhau, sắc cho uống vào lúc đói là khỏi.
Chua me đất tươi giã vắt lấy nước cốt 1 chung, rượu 1 chung, hòa lẫn cho uống lúc đói là khỏi.
Hạt vông vông, biển súc, nhân trần, mộc thông, hạt mã đề, lá tre, đều dùng 2 đ/c cỏ bấc nữa đồng, sắc cho uống là đái sẽ thong.
Củ gai giã nát, sắc cho uống là đái sẽ thông.
Dùng củ gai thêm hạt mã đề, bằng nhau, nghiền ra hành 3 tép giã nát vắt lấy nước cho uống rất hay.
Cỏ bấc sắc cho uống thường xuyên rất hay.
Rễ cà thái mỏng phơi khô sắc đặc hòa nước đái trẻ em cho uống rất hay.
3. Kinh trị tiểu tiện từng giọt sót lại, lúc có lúc không.
Tỏi 1 củ, bọc lấy nướng chín, phơi sương 1 đêm, cắn ăn lúc đói, uống với nước mới múc.
4. Kinh trị chứng lâu nhiệt, đái buốt.
Rễ biển súc 1 nắm, sắc nước thường uống.
Rau sam, giã lấy nước thường uống, rất hay.
Lá găng, 1 nắm to, giã nát hòa với 1 bát nước, lắng bỏ bã, lại cho vào 1 chén mật, uống lúc đói, chỉ uống 3 lần là kiến hiệu.
5. Kinh trị chứng lậu khi đi đái dắt.
Vỏ cây dướng, cạo bỏ vỏ ngoài, lấy lớp trắng 1 nắm to, sắc đặc uống lúc đói, rất hay.
Củ kim cang đốt qua, thái mỏng phơi khô sắc uống thay nước trà rất hay.
Mộc thông 5 đồng, hành tăm 5 tép sắc uống nóng là thông.
Nhựa cây đào, mật ong, đều 1 lạng, nước 1 bát sắc còn phân nửa, uống lúc đói là rất tốt.
Vỏ cây bồ hòn, cạo vỏ ngoài, dùng 1 nắm to, cắt nhỏ, sắc đặc uống đói rất hay.
6. Truyền trị đàn bà bí đái
Gọng rau muống 1 nắm to, giã nát đắp vào rốn là thông.
7. Truyền trị chứng “cao lâm” đái buốt các thuốc không hiệu quả.
Tổ bọ ngựa cây dâu mỗi lần dùng 1 cái nướng khô nhỏ, uống với rượu vào lúc đói nặng lắm thì uống 2,3 lần là khỏi
Cỏ mần trâu 1 nắm to, giã nát, đổ vào 1 bát nước, sắc lọc bỏ bả cho vào 1 chén con mật, uống lúc đói rất hay.
Xương dê đất cháy tán nhỏ, mỗi liều dùng 2 đ/c, lấy vỏ trắng cây dâu, sắc nước làm thang mà uống công hiệu.
8. Kinh trị chứng lậu máu, buốt dữ.
Ngó sen giã nát, lấy nước 1 bát, tóc rối đốt ra tro, 1 đ/c hòa vào mà uống, chỉ 3 ngày là hết máu khỏi đau.
Hạt cau rừng 1 hạt, mạch môn đông 5 đồng, bỏ tim, sao sắc lấy nước, mài hạt cau uống vào lúc đói là khỏi.
Tinh tre 1 nắm to, nước 2 bát, sắc lấy nửa phần, uống lúc đói rất hay.
Nhựa cây đào, sao khô, thạch cao, mộc thông, đều 1 đ/c, nước 1 bát sắc còn 7 phần uống sau bữa ăn là khỏi.
Đậu đỏ 3 vốc sao tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c, hành 1 củ nướng qua đánh tan trong rượu nóng mà uống thì hay.
Hạt vông vang 1 cân, nước 3 thang, sắc còn 1 nửa, ngày uống 3 lần là công hiệu.
Rêu xanh dưới đáy  thuyền, cạo lấy 1 nắm bằng quả trứng vịt, đổ 2 bát nước sắc còn nửa, uống vào lúc đói,.
Củ nghệ, củ hành tăm đều bằng nhau, làm 1 thăng sắc uống lúc đói, là công hiệu.
Ngài tằm bỏ đầu chân, cánh sấy khô, tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c với rượu vào lúc đói.công hiệu. bệnh khỏi thì thôi.
Trùn khoang cổ to. 6,7 con, nghiền nát đổ 1 bát nước lạnh, khuấy đều đợi lắng trong, lọc bỏ bả mà uống, kiến hiệu ngay.
Hạt mã đề tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c lại lấy hạt mã đề sắc nước mà uống vào lúc đói, nếu thạch lãm thì thêm vỏ dud a tức dâu ta nửa phần, tóc rối 1 cục đốt cháy cùng sắc mà uống.
Lá cà giã tươi vắt lấy nước 1 bát, hòa với ít muối ít rượu mà uống tự yên.
Rễ tranh 1 lạng, can khương nửa đồng, sắc nước hòa vào 1 chén mật, uống lúc đói sẽ khỏi.
Răng cá gáy 1 vốc tán nhỏ, hòa vào chút giấm chia 3 lần uống hết.
Theo phương trên bỏ giấm dùng rượu uống vào sẽ đái ra được cục ké trong ngọc hành, mà lành.
9. Kinh trị chứng  lậu ké đau buốt.
Dế dụi 7 con, muối  1 lạng, dùng miếng ngói mới bỏ muối trên vào dưới dế chính giữa, để trên lửa sấy khô, bỏ muối lấy dế tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c uống với rượu vào lúc đói, cục ké trong ngọc hành ra khỏi là lành.
Mật gà trống phơi khô 5 đ/c chất trắng trong cứt gà 1 lạng, sao vàng, đều tán nhỏ, mỗi liều dùng 1 đồng, uống với rượu, đái ra cục ké thì lành.
Đồng tiền cổ 49 đồng sắc nước uống lúc đói là công hiệu, nếu chưa khỏi thì làm lại mà uống,.
Thịt chim khác trống, đốt ra tro, hòa vào nước cho tan mà uống, hòn sỏi tự xuống, nếu khó biết trống mái thì xem con nào cánh bên trái đè lên cánh con phải là con trống,
Nhụa cây đào mỗi lần dùng 1 cục bằng hòn đàn, mùa hè dùng nước lạnh, mùa đông dùng nước nóng, độ 1 bát hòa nhựa đào vào cho tan mà uống ngày 3 lần, là đái ra hết ké, mà lành.
Mai ba ba nướng vàng tán nhỏ, mỗi lần 1,2 đồng cho uống với rượu, ngaỳ uống 1,2 đồng  với rượu, ngày uống 3 lần là đái thông ngay.
Vỏ củ ấu 1 vốc, sắc nước, hòa với 1 chung mật mà uống rất hay.
Tóc người, tốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c uống với nước giếng vào lúc đói rất hay.
Hạt ý dĩ, hoặc cây lá cũng đươc, sắc nước uống nóng, tháng hè uống lạnh, khỏi ngay.
Cây chuối nướng chín, vắt lấy nửa bát nước, là mần chầu, rễ tranh, đều 1 nắm giã vắt lấy nước, bột đậu xanh 3 đ/c, hòa đều, lại hòa vào 1 chén mật uống lúc đói đái ra sạn cát là lành.
Củ cải xắt mỏng, tẩm mật ít lâu rồi sao khô, lại tẩm sao 3 lần. Không sao cháy quá, nghiền nhỏ uống với nước muối ngày 3 lần, công hiệu không thể nói được.
10. Truyền trị nam nữ thanh  niên bị chứng đái gắt sưng đau trong ngọc hành hoặc âm hộ.
Dây lõi tiền tức dây mối giã nát, sắc chín cho muối vào chút ít, uống vào lúc đói là lành.
 
XV – SÓN ĐÁI
(ĐÁI ĐÀM)
Bệnh són đái là ngày đêm đi đái luôn không chừng độ, do tâm thận hư dương khí suy lạnh, bang quang không vận chuyển bình thường mà sinh ra. Về phép chữa phải bổ mạnh và thanh tâm tiết dục thì bệnh tự yên. Lại có khi đàn bà do sinh nở trắc trở, bang quang bị tổn thương hoặc trẻ con bang quang lạnh … đều có thể sinh ra chứng đái són không ngăn giữ được. Nên tùy chứng mà chữa.
1. Kinh trị chứng ngày đêm són đái luôn
Ích trĩ 40 hạt, nghiền nhỏ, bỏ vào tý muối sắc uống.
Ích trĩ nhân, chỉ xác, sắc nước, đổ vào 1 chén rượu , uống nóng vào lúc đói.
Củ kim cang, thái mỏng sắc cho uống khi sắp đi nằm, thì suốt đêm không đái nữa, hoặc dùng  củ kim cang sao qua, cắt mỏng sắc nước uống thay trà, hoặc tán nhỏ ra, mỗi lần dùng 2 đ/c thang với nước muối hoặc rượu.
2. Chữa chứng đi đái luôn do khí bất tức.
Tiểu hồi, tẩm nước muối sao, tán nhỏ, lấy gạo nếp làm bánh dầy nấu chín chấm thuốc bột mà ăn.
3. Chữa chứng vãi đái không nín được.
Bong bóng heo rửa sạch nấu chung với gạo nếp cho chín nhừ, cho vào chút hồ tiêu, nấu  xong bỏ gạo nếp, xắt bong heo mà ăn. Hoặc dùng tổ ong đốt cháy tán nhỏ, mỗi lần dùng 6 đ/c, uống với nước cơm là công hiệu.
4. Chữa chứng đái vặt ngày đêm hằng trăm lần là do thận khí suy yếu quá,
Ích trỉ nhân, bỏ vỏ tẩm muối sao, ô dước đều bằng nhau, dùng củ mài tán nhỏ nước và rượu khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, dùng 70 viên uống với nước muối lúc đói.
Bong bóng dê 1 cái, đổ nước vào cho đầy, buộc chặt cuống lại nướng trên lửa than cho vàng mà ăn và uống luôn cả nước. Mỗi buổi sáng cứ ăn 1 cái, ăn 3 cái là lành.
5. Kinh trị đi đái luôn vì hạ nguyên hư kém.
Hạt sen bỏ vỏ và tim nửa cân, tẩm rượu 2 đêm, bao tử heo đực 1 cái rửa sạch dồn aht5 sen vào nấu chín mà ăn, hoặc nấu cho nát bét, giã nhỏ, sây khô, luyện hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, liều uống 50 viên với nước nóng lúc đói.
6. Kinh trị đàn bà són đái.
Tổ bọ ngựa cây dâu, sao rượu tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ.c uống với nước gừng là khỏi.
Lông gà trắng đốt tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c với  rượu lúc đói là công hiệu.
7. Kinh trị chứng đi đái quá nhiều.
Ngà voi đốt tán nhỏ, liều dùng 1 đ/c uống với nước nóng hoặc hòa với rượu , ngày uống 3 lần, hoặc thay sừng hươu nướng cũng được.
Nhưng hươu bôi mỡ mà nướng, tán nhỏ, uống với rượu.
8. Kinh trị đàn ông đàn bà són đái
Phèn chua để trên ngói nung chín khô, mẫu lệ nung đỏ, 2 vị bằng nhau, tán nhỏ, liều dùng 1 đ/c.
Vỏ thạch lựu bỏ vỏ ngoài, tang bạch bì 2 thứ bằng nhau nửa nước nửa rượu, mười phần sắc còn 6 phần uống lúc đói thời rất hay.
Cao da trâu, vỏ hàu, (nung đỏ suốt), lộc nhung, tổ bọ ngựa cây dâu (sao rượu) các vị bằng nhau, tán nhỏ, khuấy hồ nếp làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 50 viên, nấu với nước muối và rượu mà uống vào lúc đói,
Cao da trâu 3 lạng, 1 bát nước, 1 bát rượu, sắc uống khi còn ấm vào lúc đói.
9. Đàn bà mừng quá hại tâm khí, vì tâm với tiểu trường chung 1 con đường truyền tống, nên sinh di đái ngày đêm vô độ.
Ích trĩ nhân, tỳ giải, thạch xương bồ, ô dước đều bằng nhau, mỗi thăng nặng chừng nửa lạng, nước 1 ít sắc còn 7 phầncho uống  lúc nóng đói. (Tỳ giải phân thanh âm) một phương không có ô dước chỉ dùng 3 vị tán nhỏ khuấy hồ làm viên, liều dùng 3 đ/c uống với nước muối.
10. Kinh trị vãi đái không nín được.
Rể tầm xuân (thứ ha trắng) 1 nắm, rửa sạch, cắt miếng, sắc nước thường uống là công hiệu, hoặc tán nhỏ với rượu, lúc đói càng tốt
11. kinh trị trẻ em đi đái dầm vì bàng quang lạnh
Nhục quế tán nhỏ, gan gà trống, 2 thứ đều bằng nhau giã nát, làm viên bằng hạt đậu xanh, mỗi lần dùng đến 5,15 viên tùy trẻ lớn nhỏ, uống với rượu nóng, ngày 3 lần là lành.
 
XVI – BÍ TIỂU TIỆN
 
Bí tiểu tiện là do thận và bang quang bị nhiệt, bàng quang là cái kho chứa tâm dịch, nước đi từ ruột non ngấm vào bàng quang thành ra tiểu tiện. Thận cùng bàng quang bị nhiệt thì vào bàng quang, khí nhiệt quá thịnh nên bế tắc làm cho tiểu tiện không thông, bụng dưới đầy trướng, nặng quá thì thủy khí ngược lên làm cho tim bị bức bách đầy trướng, có khi chết, phép chữa nên chữa tận gốc.
1. Kinh  trị bí tiểu tiện, 7,8 ngày, khí xông lên thành thũng trướng, rất nguy hiểm mà các thuốc không chữa được.
Tía tô dùng nhiều cho vào nồi to, đổ nước vào nấu sôi, cho bệnh nhân ngồi lên trên mà xông, nguội thì thêm nước sôi vào xông độ hồi lâu thì lại dùng muối so nóng bọc vải chườm trên rốn và các chỗ sưng phù đái được ngay, phù sẽ xẹp.
Cành đào, cành liễu, mộc hương, cỏ nhọ nồi, xuyên tiêu, mỗi vị dùng 1 lạng, hành 1 nắm, cỏ tím bấc 1 nắm, đều cắt nhỏ làm thang đổ 4 bát nước, sắc còn nửa đang lúc nóng xông vào chỗ đau trùm mền cho kín chăn cho hở hơi, 1 lúc lâu thì đái sẽ thông, công hiệu rất lớn.
Hạt tật lê, sao vàng tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đồng với rượu.
2. Kinh trị chứng bí tiểu trướng bụng, chậm thuốc sẽ chết.
Chì 1 lạng tán nhỏ, gừng sống 5 đ/c tán nhỏ bấc 1 nắm dùng nước mới múc sắc cho uống. Ngoài dùng 1 cân hành giã nhỏ, xào nóng, bọc làm 2 gói, thay đổi mà chườm trên rốn, hơi nóng thấu vào là đái thông ngay.
Muối 1 nhúm, bỏ vào rốn dùng lá ngải khô vò nát để lên mà cứu, đến khi đái thông thì thôi, hoặc dùng củ hành thái mỏng để lên rốn, rồi để lá ngải cứu lên mà cứu càng hay.
Trùn đất 5,6 con, nghiền nát, đổ nước lạnh vào khuấy đều, đợi lắng trong lọc bỏ bã cho uống, lập tức đái thông.
ốc bươu  1 con, muối nữa đồng cân, dùng giã nát, rịt vào rốn 1 tấc 3 phân, đái sẽ thông ngay.
Xác rắn 1 cái đốt tồn tính, tán nhỏ hòa rượu cho uống, sẽ kiến hiện ngay.
Mỡ heo 1 lạng, nước 2 bát, sôi 3 dạo, cho uống vào là đái được ngay.
Ngà voi cạo lấy mạt 1 nắm sắc cho uống là đái được.
Dùng nước mài dao 1 chén cho uống cũng công hiệu.
3. Kinh trị đái tiểu tiện đau thắt bụng dưới, khí trướng xông lên mà ngất.
Trần bì 3 lạng, hành 3 củ, hạt quỳ 1 lạng, nước 5 bát sắt còn  2 bát, chia uống 3 lần là đái thông.
4. Kinh trị đái không thông.
Danh dành 14 quả, tỏi 1 (tức dùng tỏi chỉ có 1 củ cái) cho vào tý muối giã lẫn cho thật nát đem rịt vào rốn và bìu dái, 1 hồi lâu là đái thông.
Mã đề 1 thăng, nước 3 thăng sắc còn 1 nửa chia uống  3 lần.
Phương khác dùng mã đề vò lấy 1 bát nước, hòa với 1 muỗng mật cho uống.
Phương khác thêm nước bí đao, hoặc giã lá dâu lấy hòa nước với bí đao cho uống.
Hạt thầu dầu 3 hạt giã nát rãi vào tờ giấy cuộn lại đút vào trong lỗ đái là thông ngay.
Rau mùi, rễ vông vang, đều dùng 1 nắm nước 3 bát, sắc còn 1 nữa, hòa 1 lạng bột hoạt thạch, chia uống 3 lần là thông, hoặc dùng 3 con dế dũi nướng vàng muối với rượu, hoặc dùng 2 đ/c bột Mộc thông vào với rượu mà uống đái sẽ thông ngay.
5. Kinh trị đại tiện bí do có thấp nhiệt trong trường vị.
Binh lang 1 hạt to, tán nhỏ, mỗi lần dùng  1 đ/c hành 3 củ thái mỏng, nước tiểu trẽ em 1 bát, sắc cùng cho uống hoặc dùng binh lang 3 đồng, nửa nước nửa mật nấu làm thang uống nóng rất hay.
6. Truyền trị chứng bụng trướng đầy, đại tiện bí kết.
Nghệ vàng sao khô tán nhỏ, mũ cây vú bò, cùng giã nhỏ làm viên bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 3 viên đại tiện nhuận ngay.
7. Truyền trị đại tiện không thông, mọi thuốc không đỡ.
Củ rẽ quạt giã sống 3 đ/c hòa với 1 chén nước lọc bỏ bả cho uống là thông.
Ô mai 10 quả, gỡ bỏ hạt lấy cơm tẩm nước nóng viên lại bằng quả táo, đem đút vào lỗ đít lập tức thông ngay.
8. Truyền trị táo kết bụng trướng lên, mặt vàng mà sưng, ợ chua, ăn không được.
Gạo nếp 8 đ/c, can khương 1 đ/c vỏ quýt 5 phân, ba đậu 2 hạt.
Cùng sao vàng rồi sang bỏ ba đậu lấy 3 vị kia tán nhỏ, luyện hồ làm viên bằng hạt đậu xanh, liều dùng 5,7 viên, lấy nước gừng với tía tô làm thang, uống sau bữa ăn, nếu người hư yếu quá thì dùng 3 viên.
Hành trắng cả rễ 1 tép gừng sống 1 củ, muối 1 nhúm, đậu sị 2 hạt, cùng giã nát làm thành bánh, nướng nóng đem đặt vào rốn dùng băng chặt lại hồi lâu khí nóng, thấu vào là thông, nếu chưa thông thì làm lại lần nữa
Hoa hòe phơi khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c hoặc uống sống cũng công hiệu, cuống dưa đá 7 cái tán nhỏ, rịt vào lỗ đít sẽ thông đại tiện.
Chỉ thực sao qua, bồ kết bỏ hạt và vỏ đen đều bằng nhau cùng tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c uống với nước cơm hoặc quyết với cơm làm viên viên mà uống với nước là công hiệu.
Mũ cây vú bò, trộn với bồ hóng bếp làm viên bằng hạt nhân phơi khô, mỗi lần uống 1 viên, sắc 7 nhát gừng 1 đ/c muối và 1 bát nước làm thang mà uống dần dần xuống, 1 lúc uống hết là đại tiện thông, thuôc này gọi là “bị cấp hoàn” người già chớ dùng.
Tổ ong đốt tồn tính tán nhỏ, mỗi lần uống 2 đ/c với nước nóng.
Hạt bìm bìm tán nhỏ, nửa để sống nửa sao cho uống với nước gừng. chưa thông lại uống nữa 1 phương khác gia thêm chỉ xác bồ kết bỏ hạt và viên vành. Các vị đều bằng nhau tán nhỏ luyện mật làm viên bằng hạt ngô đồng, liều dùng 70-80 viên uống với nước nóng rất hay.
Cùng phương trên, hạt cau, thanh bì, lượng bằng nhau.
9. Kinh trị đại tiện, bí kết.
Cao da trâu 3 tấc, hành trắng 1 nắm, sắc với 4 bát nước còn 1 bát rưỡi mà uống.
Phương trên hòa vào 1 chén mật mà uống thì ỉa được.
10. Kinh trị bí đại tiện và chữa người già bị  phong hư mà táo bón.
Bồ kết lâu ngày, đốt tồn tính, đổ ra đất, úp bát lại 1 đêm, tán nhỏ hòa với rượu uống. mỗi lần  1 muỗng vào lúc đói.
11. Kinh trị đai tiện bí vì phong.
Tật lê sao 2 lạng, hạt bồ kết bỏ vỏ tẩm mỡ hoặc váng mỡ mà nướng, 5 đ/c tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c uống với nước trà hoặc lẫn nước muối. Phương khác chỉ  dùng bồ kết không dùng tật lê.
12. Kinh phương: trị đại tiện bí vì phong vì khí
Hạt cải củ 1 vóc, ngâm nước, nghiền nhỏ hòa với bột bồ kết 2 đồng mà uống.
13. Phép thông khoa bằng dầu.
Hành trắng giã nát, lấy nước bôi khắp người, ngoài cái ống tre nhét vào lỗ đít, lại lấy dầu mè bằng nửa phần nước hành, 2 thứ trộn đều đổ vào trong bong bóng heo. Dốc vào trong ống tre cho chảy lỗ đít, là ỉa được ngay.
14. Thông khoan bằng mật ong.
Dùng mật ong cô đặc như keo, thừa lúc đang nóng, vắt thành thoi dài, bằng ngón tay, chấm bột tạo giác vào đầu nhọn, đút vào lỗ đít, chốc lát thì ỉa ra được phân táo.
Nõn lá dong dùng hành giã nát bôi vào cuống lá ấy  mà đút vào lỗ đít, là ỉa được ngay.
15. Thông khoan bằng mật heo:
Dùng 1 cái mật heo, đổ bớt 1 phần nước mật, gia giấm ngon vào trộn đều, dùng ống đút vào lỗ đít tồi tiếp cái mật  vào ống tre cho nước chảy vào một chốc là ía được.
16. Thông khoan bằng gừng.
Một củ gừng, cảo bỏ vỏ, gọt thành hình ngón tay , bôi nước muối vào, đút vào lỗ đít, là ỉa được ngay.
 
XVIII – BÍ ĐẠI TIỂU TIỆN
Bí đại tiểu tiện là sự bài tiết không thuận lợi, nêu theo phương pháp sau đây mà chữa.
1. Kinh trị bí đái tiểu tiện 5,6 ngày.
Tìm bắt con bọ hung to trong đống cứt trâu, phơi râm cho khô rồi cất để dành, lúc thì để trên miếng ngói đốt lảư sấy khô, tán nhỏ hoà vào trong nước mới múc mà dùng, nếu chỉ bí đái thì dùng nửa phần dưới nếu bí đại tiện thì dùng nửa phần trên, nếu bí cả hai thì dùng nguyên con, rất công hiệu.
Mật ong 1 bát cho vào 2 đ/c, phác tiêu đổ vào 1 bát nước sôi hoà đều mà uống rất công hiệu.
2. Chứng quan cách không thông (nuốt không xuôi, ợ không thông) bụng đầy trướng uống nước không khỏi.
Củ tỏi nướng chín, bỏ vỏ ngoài, bọc bông lại, đút vào lỗ đít thông ngay.
3. Kinh trị đại tiểu tiện bí đã 10 ngày phình bụng trướng lên, mọi thuốc không công hiêu.
Hột vông vang dùng 5 đ/c sắc uống, chưa thông cho uống lần nãư.
4. Kinh trị bí đái tiểu tiện, bụng dưới đau quặn, không kể mới hay lâu đều công hiệu.
Kinh giới, đại hoàng, 2 vị đều bằng nhau, tán nhỏ liều dùng 3 đ/c bí đái thì giảm nửa đại hoàng, bí ỉa thì giảm nửa kinh giới. uống với nước nóng.
5. Kinh trị đại tiểu tiện không thông, uống các thuốc mà không công hiệu.
Củ rễ quạt, giã sống vắt lấy nước cốt 1 bát cho uống là thông.
Chua me đất mã đề, 1 nắm, giã vắt lấy 1 bát nước cho vào 1 đồng cân đường cát, mà uống đại tiểu tiện thông ngay.
Hành trắng giã nát hoà với giấm thanh  dịt vào lỗ rốn, dùng ngải cứu đốt 7 mồi là thông ngay.
Hạt cau già tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c nửa mật nửa nước, sắc lên cho uống. Hoặc nước tiểu trẻ em sắc với hành trắng.
Bồ kết đốt tán nhỏ, mỗi lần dùng 3 đ/c, hoà với nước cháo mà uống, hoặc dùng nhiều bồ kết đổ vào nồi đốt cháy xông vào lỗ đít.
Ba đậu, hoàng liên đều 5 đ/c tán nhỏ nhào với nước làm bánh, trước lấy hành và muối giã nhỏ vắt lấy nước, nhỏ vào lỗ rốn đặt bánh thuốc lên trên, để lá ngải lên mà cứu 27 mồi là thông ngay.
 
 
XIX – TRĨ RÒ.
Trĩ rò hay mạch lươn là chứng trong và ngoài hậu môn đều mọc mụn, nếu mọc mụn mà không vỡ mũ gọi là trĩ, lở loét chảy máu mủ, chảy nước vàng gọi là trĩ lậu, rò hay mạch lươn. Cho nên trĩ là thuộc thực, chứng nhẹ mạch lươn là thucộ hư, chứng nặng. Sách nội kinh có chia làm 5 chứng truỳ tình trạng cùng tên gọi khác nhau nhưng căn bản đều do ham ăn đồ hậu vị cay nóng, hoặc do rượu trà dâm dục, lo nghĩ uất nhiệt tích độc mà sinh ra. Búi trĩ mọc kín trong hậu môn, hoặc lòi rangoài, độc nặng thì búi tom to thì giống như cái mồng gà, hoa sen, quả dào, bé thì giống như cái vú bò, quả tim gà hay nhân hay hạt dào, hoặc chảy máu mũ, khi đi khi ngồi thì rất đau khổ, lâu ngày không khỏi thì sinh trùng.
Về phép chữa không ngoài phép thanh nhiệt, lương huyết, sát trùng là chủ yếu.
1. Kinh trị 5 chứng trĩ.
Trĩ ngoại thì đi ngoài ra máu trước phân
trị nội thì đi ngoài trong phân có máu và lòi trôn trê.
thử trũ thì chung quanh hậu môn mọc mụt như đuôi chuột.
Nuy sang là đầu hậu môn lỗ thủng lở loét.
Trùng trĩ  thì lỗ đít có trùng đều dùng chữa được cả.
Hoa hoè kinh giới chỉ xác, lá ngãi cứu đều 1 nắm, cho vào 3 đ/c bột phèn chua, dùng lá chuối bịt kín miệng nồi, nấu sôi 5 dạo, nhắc xuống cọc 1 lỗ cho hơi bốc lên để xông lỗ đít, sau dùng nước ấy đổ rửa đít, làm vậy vài ngày thì khỏi.
2. Kinh trị bệnh trĩ mới phát
Rau sam, luộc chín ăn nhiều, lấy nước luộc xông rữa, 1 tháng thì khỏi bệnh.
3. Kinh trị bệnh trị mạch lươn, không cử lâu hay mới 30 năm cũng kiến hiệu
Tua sen 1,5 lạng, hạt bìm bìm đen tán nhỏ, lấy bột, Đương quy 5 đồng, tán nhỏ, liều dùng 2đ/c, uống với rượu lúc đói. 5 ngày khỏi. kiêng ăn đồ cay nóng.
4. Kinh trị bệnh mạch lươn mới phát.
Kén tằm 2,3 cái, cắt móng tay người đàn ông dồn đầy trong kén, ngoài dùng tóc trẻ con buộc chạt đốt tán nhỏ, hoà với mật bôi vào chỗ lở.
Ngày 8 tháng chạp lấy mật trâu đen nhét hạt hoè cho đầy phơi râm 100 ngày, mở ra mà dùng, mỗi lần dùng 10 hạt, uống với rượu lúc đói.
5. Kinh trị bệnh “thử trĩ” có mun chảy mũ, đau nhức nằm ngồi không được.
Ốc bươu, 9 con, cạo vỏ ở miệng ra bỏ vào 1 ít phèn chua rồi đậy lại, chôn xuống đất 1 đêm khi chôn nhớ để miệng trở lên, sáng lấy lên dùng lông gà, nhúng nước trên vẩy  mà phết vào chỗ lở 7 lần mà lành.
6. Trị bệnh thường trĩ, khí trĩ, máu mũ dầm dề:
Xuyên sơn giáp 1 lạng, dốt tồn tính, Nhục đấu khấu  3 quả, tán nhỏ, mỗi lần dùng 3 đ/c uống với nước cơm lúc đói.
Vảy con trút 3 lấy 3 hàng vảy ở chỗ cuống đuôi, đốt tán nhỏ, cho vào tý xạ hương hòa với nước trà uống, cạn thì bôi vào chỗ lở.
7. Kinh trị bệnh thường trĩ (trị nội)  ra máu lâu năm không khỏi.
Cỏ tháp bút, 2 lạng, chỉ xác 2 lạng, can khương 1 lạng, địa hoàng 2,5 đồng đều sao đen tán nhỏ, mỗi lần dùgn 2đ/c với nước sôi.
8 Kinh trị chứng trĩ mạch lươn ra máu.
Ích mẫu tươi giã vắt lấy nước cốt cho uống.
Lá ké đầu ngựa, hái ngày 5/5 AL, tán nhỏ đều dùng 1đ/c uống với nước, rất hay.
Rơm lúa nếp, đốt ra tro, ngâm nước nóng rồi đem ngâm chổ đau 5 lần là thôi.
Đậu đỏ 3 thang, giấm 3 thăng. Nấu chín, phơi khô, tẩm phơi, tẩm hết giấm thì dùng 3 đ/c với rượu, ngày 3 lần.
Củ kim can, củ ráng, đều bằng nhau, đốt qua cạo bỏ vỏ ngoài tán nhỏ, mỗi lần dùng 3 đ/c với rượu lúc đói. khỏi bệnh và bổ ích,
Hành trắng 3 lạng, nấu lấy nước để xông, rất công hiệu, hoặc chua me đất 2 nắm, nước 2 thăng sắc lấy phần nửa, ngày uống 3 lần.
9. Kinh trị 5 loại trị  ra máu.
Mộc nhĩ cây dâu, nấu canh, ăn no vào lúc đói, 3 ngày cho ăn 1 lần, đợi chỗ lỡ bỗng nhiên như chim mỗ, lấy đậu đỏ 1 thăng, giã lần nhau, gói 2 túi, đem nấu, thừa lúc nóng thay đổi mà ngồi lên trên thì khỏi. Hoặc dùng mộc nhĩ cây hoè tán nhỏ, mỗi lần dùng 3 đ/c, uống với rượu lúc đói, ngày 3 lần.
10. Kinh trị bệnh trĩ ra máu
Lá hoè 1 cân, đồ chín, phơi khô, nấu thay nước chè uống sẽ khỏi.
11. Kinh trị 5 loại trĩ bất cứ trị nội, ngoại đều chữa khỏi.
Mai ba ba chữa chứng mẫu trĩ: Lỗ đít sưng mụn lòi ra, có mũ như vú chuột.
Da nhím chữa chứng tẫn trĩ: Lỗ đít sưng mũ lòi ra có mũ.
Tổ ong tàn chữa chứng mạch trĩ: Lỗ đít có mụn, ngứa đau
Ác rắn chữa chứng huyết trị: Đi ngoài bắn ra máu
Móng chân giò heo đeo bên trái chữa chứng tráng trĩ: Lỗ đít nổi mụn, lòi trôn trê, ỉa ra máu.
Các vị đều bằng nhau đốt ra tro tán nhỏ, trộn đều nhưng tuỳ loại trị mà dùng gấp bội lên 1 phần vị chủ dược ấy, liều dùng 2 đ/c với nước giếng múc sáng sớm. Có phương Xạ hương
12. Kinh trị chứng  “thử bao thạch” thịt đùn ra như hạch chuột, đau buốt mà chưa thành mủ.
Lá trắc bá giã đắp vào lại dùng muối rang nóng vào giẻ mà chườm hơi thấu và thì tiêu.
Lá trắc bá, nấu với nước phèn chua. Phơi khô, Cước bẹ móc đốt ra tro, đều dùng lạng hoa hoè sao cháy 2 lạng, cùng tán nhỏ, 3 đ/c với rượu lúc đói.
13. Truyền trị bệnh thử  nhũ trĩ, thịt đùn như vú chuột lâu hay mới phát đều công hiệu.
Nghể răm, lấy nhiều cho vào nồi đất đổ nước vào, lá chuối bịt kín miệng nấu sôi trổ 1 lổ đế xông vào lúc hết hơi, nước ấm thì rửa.
Trấc 1  quả to, bỏ ruột, Ba dậu 3 đ/c bỏ vỏ nghiền nát, nhét ba đậu vào trong lỗ quả trấp, lấy dây buộc chặt lại bỏ vào nồi đất, bỏ giấm vào nấu khô cạn, rồi lấy quả Trấp phơi khô tán nhỏ Mỗi lần dùng chút ít, rắc lên giấy mà dán.
14. Truyền trị bệnh trĩ đã hàng năm không khỏi.
Mật gấu, bôi vào rất hay
15. Kinh trị chứng trĩ mạch lươn chảy nước.
Bọ hung  dùng 1 con, giết chết, phơi râm sấy khô, cho vào ít băng phiến tán nhỏ, nấu chung phèn chua rửa sạch chổ lỡ trước rồi dùng thuốc bột quấn vào giấy đút vào lỗ mạch lươn dần thịt mới sinh ra.
Hoặc không dùng băng phiến cũng được.
16. Truyền trị trĩ đau nhức không chịu nổi.
Rết to đầu đỏ chân 3,4 con nấu chung 1 bát duầ mè, sôi 2 dạo, Ngủ bội tử tán nhỏ dùng 3 đ/c, 2 vị ngâm chung trong lọ, cất kín, đến lúc dùng bôi vào.
Hoặc dùng con rết đốt tồn tính tán nhỏ mà bôi cũng được, hoặc chỉ dùng dầu ngâm rết mà bôi cũng được.
Biến  súc giã vắt lấy nước 1 thăng cho uiống luôn, hặoc trộn với bột làm bánh mà ăn.
Rau giấp cá 1 nắm, nấu nước cho xông, ngâm rửa, bã bịt vào chỗ đau
Chỉ xác tán nhỏ, bỏ vào nồi đổ nước, nấu sôi 100 dạo mang ra mà xông, đợi nước ấm ngày 3 lần, lành thì thôi.
Lá hẹ giã nát, vắt thành bánh thường ngồi lên trên rất hay. Lá hẹ 1 nắm, dùng nồi đẩt đổ nước vào nấu sôi lên, bỏ nắm hẹ vào nấu lá chuối bịt kín nồi, chọc thủng 1 lỗ ngồi lên trên mà xông, rồi rửa 2-3 lần.
Bồ kết nấu xông, sau lấy 1 con ngỗng hoà với bột bạch chỉ dịt vào lành ngay.
Giấy trứng tằm, đốt ra tro tán nhỏ, uống với rượu lúc đói, ngoài dùng nhện hùm 1 con, hoa kim ngân 3 đồng, đất sét bọc ngoài nướng, đập vở lấy 2 vị nghiền nát, lấy gọng thài lài chấm thuốc bột, lành thì thôi.
Bầu đắng 5 quả, dùi lỗ lớn bỏ vào nấu chín, mỗi lầnd ùng 1 quả, lấy ống tre 1 đầu cắm vào quả bầu, đầu kia vào chỗ đau mà xông.
17. Kinh trị chứng phong trị sưng đau, lúc phát lúc không.
Bạch cương tằm 2 lạng, tán nhỏ, bỏ đầu, chân, sao vàng tán nhỏ, ô mai nấu chín bỏ hạt, giã nát viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần dùng 5 viên, 5 lát gừng sắc nước và mật ong uống lúc đói.
18. Truyền trị 5 loại trĩ đau nhức
hạt mùi sao thơm tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c với rượu lúc đói
Hạt ngò rí  1 vốc, chỉ xác 3 lạng, sao, bồ kết 1 quả  bỏ vào nướng, tán nhỏ luyện mật làm viên, mỗi lần dùng 40 viên với nước cơm lúc đói.
19. Trị trùng ăn lở loét ở ruột cùng.
Móng chân ngựa đốt tán nhỏ, hoà với mỡ heo gói lụa nhét vào 3 ngày là lành.
20. Chữa lòi trôn trê, chảy nước ngứa tức là có trùng
Ngải cứu khô 1 nắm, gừng tươi 2 lát, sắc uống, ngoài dùng gừng lá ngải cứu rễ xoan nấu ra nước đậm, xông rồi rửa 6 lần.
Lá đào 1 bó giã nát, cho nồi đậy kín lá chuối cột kĩ sôi 3 dạo, trổ 1 lổ mà xông
Cỏ nụ áo, hạt cau rừng, rễ thạch lựu. Nước chảy phía đông 1 bát, Sắc uống đợi trùng chết
Hạt bìm bìm sao nghiền bột, thịt heo 4 lạng, nướng chín chấm thuốc bột ăn.
21. Kinh trị bệnh trĩ có trùng, ngứa ra máu.
Vỏ cây hoè, lấy thớ trắng, sắc đặc, xông, rửa
22. Kinh trị bệnh trĩ có trùng mót rặn đi ngoài không được.
Hạt cau rừng tán nhỏ, 2 đ/c uống nước sôi lúc đói,
23. Trị 5 chứng trĩ cách chứng mạch lươn.
Kim ngân hoa, tẩm rượu sấy than 1 đêm, tán nhỏ, khuấy hồ làm viên bằng hạt ngô đồng, dùng 50-100 viên.
24. Kinh trị 5 loai trĩ.
Hạt cải tán nhỏ, tẩm với nước và mật dịt vào chỗ đau
25. Kinh trị bệnh rò có nhiều chỗ thông nhau.
Bán hạ, tán nhỏ hào với nước đắp ngày 2 lần.
26. Kinh trị mạch lươn, thủng lỗ chảy nước và chứng  lòi trồn trê.
Xương ống chân hổ 2 đốt, bôi mật nướng vàng, tán nhỏ nấu bánh làm viên bằng hạt ngô đồng, dùng 20 viên với rượu lúc sáng sớm.
Úc mai rùa, mai ba ba, phèn chua, đốt tồn tính, tán nhỏ, rắc vào chỗ đau.
27. Kinh trị chứng tữ trĩ lòi trôn trê
Xơ mướp đốt tồn tính tán nhỏ, mỗi lần dùng 2 đ/c với rượu lúc đói
28. Kinh trị 5 loại trĩ trôn trê trăm phương không kiến hiệu.
Chuột xạ 1 con, rết 1 con, bỏ nguyên cả con vào trong nồi, đậy vung lại ngoài trét bùn dầy 1 tấc, bỏ lửa hầm 1 đêm, lấy ra đợi nguội tán thuốc, rắc vào.
 
XX – LÒI DOM (TRÔN TRÊ)
Lòi dom là đầu ruột cũng lòi ra ngoài. Lỗ đít với ruột già có quan hệ gốc ngọn, có tương quan biểu lý với phế, phế nhiệt thời ruột bế tắc không thông, phế hư thì luột ròi ra không thu vào. Thế nên nguyên nhân sinh ra bệnh lòi trôn trê hoặc vì có chứng tràng phong hạ huyết, hoặc bị trĩ, mạch lươn uống nhiều thuốc hàn lương quá mà lòi ra ngoài hoặc do đi lỵ lâu ngày rặn nhiều quá mà lòi ra, hoặc sản phụ lúc đẻ bị rặn nhiều quá cũng có trẻ con hò hét giận dữ và đi lỵ lâu ngày hư yếu bên ngoài mà lòi ra.
Phép chữa phải xét rõ từng bệnh chứng mà xử lý.
1. Kinh trị lòi trôn trê đi lỵ lâu ngày.
- Quả trấp 2 quả, mài vào đá cho bằng, nhúng vào mật ong, nướng vàng, thừa lúc đang nóng chườm vào, nguội thì thay cái khác, làm đến thụt vào thì thôi.
2. Kinh trị bệnh lòi trôn trê lâu ngày không thụt vào:
- Lá sen, sấy khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 1đ/c, uống với rượu, lại dùng lá sen khác rắc thuốc tán ấy lên trên mà ngồi, rất hay.
- Bồ kết 5,6 quả, đập nát cho nước vào, giã nhỏ vắt lấy nước cốt mà chấm, sẽ thụt vào.
- Hoa hoè nấu nước nóng mà xông, khi nước ấm thì uống và rửa, vài ngày là thụt vào.
Bèo tía phơi khô tán nhỏ rịt vào.
Lá hẹ cắt nhỏ, trộn với giấm xoa nóng, dùng lạu gói làm 2 gói thay nhau mà chườm sẽ khỏi.
Cua đinh 1 con luộc chín mà ăn, còn nước luộc ấy đem rửa chỗ đau, xương đầu nó đốt tồn tính tán nhỏ rắc lên là thụt vào.
Nhền nhện 7 con  đốt tồn tính tán nhỏ trộn với duầ mè bôi vào, rất hay.
Cỏ hy thiêm giã nát trộn với giấm, nặn thành bánh hơ lửa nóng mà đắp vào, nguội thì thay.
Củ gai đập dập giã nát, nấu sôi lúc đang nóng thì xông, nước ấm thì rửa là công hiệu. Hoặc cỏ tháp bút đốt tồn tính tán nhỏ.Xức vào rồi lấy tay đẩy lên, là nó thụt vào.
Đất vách hướng đông đã lâu năm, tán nhỏ rắc vào ngoài lấy bồ kết nướng ép lên, quả này nguội thay quả nóng khác, rất công hiệu.
Hương phụ mễ, hoa kinh giới tán nhỏ đều bằng nhau mỗi lần uống 1 đ/c, lại dùng 1 đ/cđổ 1 bát nước nấu sôi 10 dạo, đổ ngâm và rửa.
Quả hoè, hoa hoè, các vị đều nhau tán nhỏ, trộn với tiết dê tươi vắt lại 1 cục phơi khô, đến lúc dùng tán nhỏ ra, mỗi lần dùng 2 đ/c, uống với rượu lúc đói.
Haạtgiần sàng, cam thảo, đếu lạng tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c uống với nước sôi ngày 3 lần và dùng thuốc tán rắc vào.
Xương hổ đốt tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đ/c, uống với nước ngày 3 lần rất hay.
Bồ hóng, cứt chuột cho vào nồi mà đốt ra khói, bố trí cách ngồi lên mà xông, rất hay.
Bồ hoàng tán nhỏ, trộn với mỡ heo dịt vào, ngày thay 2,3 lần
3. Chữa sưng đau muốn thành bệnh trĩ.
Dùng dao mổ heo mài lấy 1 bát nước cho uống rất hay.
Rau sam, chua me đất, đều dùng 1 nắm, nấu sôi để xông và rửa ngày 3 lần.
Thỏ ty tử sao đen tán nhỏ, trộn vào lòng trắng trứng gà mà đắp, hoặc dùng củ gai giã sống ngồi lên trên cũng hay.
Các bài viết liên quan
Thiết kế website chất lượng cao NAM VIỆT IT